Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

LÁ XƯƠNG SÔNG CHỮA TRỊ TIÊU ĐỜM,HO

Xương sông là loại cây được nhân dân trồng khắp nơi, dùng để ăn uống, làm gia vị và làm thuốc chữa cảm cúm, sổ mũi, ho hen, viêm họng, đau họng, nhức răng, loét lưỡi loét miệng, cam sài trẻ em… Theo Đông y lá xương sông có tác dụng bổ phế, chống co thắt phế quản, tiêu đờm đặc biệt là những trường hợp do phế nhiệt.

Xương sông có tác dụng bổ phế,tiêu đờm...
Sau đây là một số bài thuốc có dùng lá xương sông


Ho do phế nhiệt: Ho khan, ho kéo dài, người bệnh không ngừng được: lá xương sông, lá dâu, lẫm đề, mỗi thứ một nắm nấu nước uống (cách 30 phút uống 1 lần).

Cảm cúm nhức đầu sổ mũi, đau họng rát họng, ho mắc đờm: Lá xương sông 24g, cát cánh 12g, tía tô 16g, trần bì 12g, mạch môn 16g, cam thảo 12g, sinh khương 6g sắc uống hoặc lá xương sông 24g, mạch môn 16g, ngũ vị 12g, xa tiền 12g, bán hạ 10g, hậu phác 12g, mơ muối 12g, trần bì 12g, đại táo 16g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Trẻ nhỏ bị ho, sốt nhẹ: Lá xương sông 6g, lá hẹ 6g, hai thứ rửa sạch thái nhỏ bỏ vào chén con, đường trắng 1 thìa, mật ong 4 thìa. Đưa bát thuốc hấp vào nồi cơm khi chín mang ra để nguội, lấy nước thuốc trong bát cho trẻ uống 4 – 5 lần trong ngày.

Khi dùng phải thức ăn không hợp vệ sinh gây đau bụng đầy bụng, nôn mửa: Lá xương sông 30g, tía tô 30g, sinh khương 10g, hậu phác 10g, trần bì 10g, chỉ xác 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 3 bát nước, nấu sôi 10 phút, rót ra bát uống dần.

Trong vú có u cục đau nhức: Lá xương sông và lá đinh lăng mỗi thứ một nắm, giã nhỏ đắp tại chỗ, băng lại, đồng thời cho uống: Rễ xương sông 12g, nam tục đoạn 12g, kinh giới 12g, hoa hòe (sao vàng) 16g, củ đinh lăng 16g, trinh nữ 16g, cho các vị vào ấm đổ 3 bát nước, sắc còn 1,5 bát chia 2 lần uống trong ngày (uống khi thuốc còn ấm).

Người cao tuổi bị đau răng nhức răng, tụt lợi: Rễ xương sông rửa sạch phơi khô 20g, hoàng liên 10g, hai thứ cho vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm, ngâm khoảng 10 ngày là có thể dùng dược, dùng bông chấm thuốc bôi vào răng lợi.

CHỮA PHÙ NỀ BẰNG NGHỆ ĐEN

Nghệ đen thuộc họ Gừng, tên khác là nghệ tím, nga truật, bông truật, là một cây cỏ. Thân rễ mang nhiều củ nhánh và củ phụ nhỏ. Lá có bẹ dài, có đốm tía dọc theo gân giữa ở mặt trên. Hoa màu vàng, xuất hiện trước khi cây ra lá. Cây mọc tự nhiên ở nhiều miền núi, ven suối.

Nghệ đen mọc nhiều ở ven suối,miền núi
Bộ phận dùng làm thuốc của nghệ đen là thân rễ được thu hái vào mùa thu đông, rửa sạch, thái lát, phơi khô. Khi dùng đồ dược liệu cho mềm, tẩm dấm một đêm rồi sao qua. Phụ nữ Thái ở Tây Bắc dùng thân rễ nghệ đen phối hợp với nghệ vàng và nghệ trắng (mỗi thứ 20g) ngâm nước tiểu trong, 1 ngày và 1 đêm, thái mỏng, phơi khô, sắc với 400ml nước còn lại 100ml, uống làm 2 lần trong ngày để chữa bế kinh, huyết tích.

Để chữa sản hậu, phù nề, vàng da, họ lấy nghệ đen 100g, hương phụ 100g, quả quất non 50g, cắn nước tiểu 5g, phơi khô, tán bột, luyện với mật ong làm viên bằng hạt ngô, ngày uống 10 viên.

Nghệ đen và mộc hương (lượng bằng nhau) phơi khô, tán bột, mỗi lần uống 2g với nước dấm nhạt chữa đau bụng từng cơn do khí lạnh hoặc tích trệ (Nam dược thần hiệu). Theo tài liệu nước ngoài gần đây các nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu thấy nghệ đen có tác dụng chống ung thư.

QUẢ LA HÁN HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BỆNH HO LAO

Theo Đông y, cây Bung Lai có tác dụng trị cảm lạnh, đau đầu, trướng bụng, tiêu hóa kém, tiêu chảy, viêm gan… Quả La hán có tác dụng nhuận phế lợi hầu, hóa đàm chỉ khái, nhuận tràng thông tiện, có tác dụng hữu hiệu trong chữa trị các bệnh liên quan đến đường hô hấp.

Quả la hán
Để tốt cho gan và đường tiêu hoá, hàng ngày, bạn có thể dùng 15-30g Bung lai khô đun sôi và dùng nước uống thay trà. Để trị giun sán cho trẻ, bạn chỉ cần lấy lá Bung lai đem hơ sấy trên than rồi sắc lấy nước cho trẻ uống. Không chỉ có tác dụng trị những bệnh trên, cây Bung lai còn được dùng để thanh giải chứng sưng thũng vàng da, giải độc rắn cắn, trị sốt, thương hàn, chữa bệnh eczema và ghẻ ngứa.

Cùng với cây Bung lai thì quả La hán cũng là một trong những vị thuốc quí trong Đông Y. Với vị ngọt, tính mát, không độc, La hán quả có tác dụng nhuận phế lợi hầu, hóa đàm chỉ khái, nhuận tràng thông tiện, có tác dụng hữu hiệu trong chữa trị các bệnh liên quan đến đường hô hấp.

- Để chữa viêm họng: La hán quả thái lát, sắc nước uống thay trà trong ngày

- Chữa mất tiếng: La hán 1 quả, thái lát, thêm lượng nước thích hợp sắc lên, chờ nguội, chia ra uống nhiều lần, mỗi lần một ít.

- Chữa ho gà: La hán 1 quả, hồng khô 25g, sắc nước uống; Hoặc dùng trái la hán 1 quả, phổi lợn 40g (bóp hết bọt), hầm chín, thêm gia vị vào ăn.

- Chữa ho khạc ra đờm vàng đặc quánh: La hán quả 20g, Tang bạch bì 12g, sắc nước uống trong 7-10 ngày.

- Bổ phế, hỗ trợ trong điều trị ho lao: La hán quả 60g, thịt lợn nạc 100g; hai thứ đều thái lát, thêm lượng nước thích hợp, hầm chí, thêm chút muối, ăn trong bữa cơm.

- Chữa táo bón: Dùng la hán quả sắc lấy nước, pha thêm mật ong uống trong ngày.

Trà La hán là thứ nước giải khát giàu dinh dưỡng, rất thích hợp với những người thể tạng nóng trong, đặc biệt là những người bị đái tháo đường hay béo phì. Uống quả La Hán trong mùa hè có thể trị say nắng, giảm nhiệt. Vào mùa Đông, dùng món này sẽ làm mềm và giữ ấm cổ họng.

VỪNG ĐEN GIÚP BỔ NÃO,MẠNH GÂN CỐT

Vừng đen (miền Nam gọi là mè đen) là một thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và vị thuốc chữa bệnh tốt. Theo y hoc cổ truyền, hạt vừng đen có tên thuốc là hắc chi ma. Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) đã dùng hạt vừng đen sao cháy tán bột, mỗi lần uống 12g với ít rượu pha mật hoặc nước gừng để chữa đau lưng. Phụ nữ có thai sắp sinh con thường ăn chè vừng đen để dễ đẻ; sau khi đẻ thiếu sữa đem sao hạt vừng đen với muối giã ăn hàng ngày. Để chữa nhọt lở lâu ngày không liền miệng, lấy hạt vừng đen 20-30g sao cháy, giã đắp hàng ngày. Phối hợp với nhiều vị thuốc khác, hạt vừng đen được dùng trong những trường hợp sau:

Vừng đen
Thuốc bổ mạnh gân xương

Hạt vừng đen 300g, đồ chín, phơi khô, sao vàng; lá dâu non 500g, rửa sạch, phơi trong râm hoặc nắng nhẹ cho khô, vò nát bỏ cuống và gân lá, sấy khô. Tán hai thứ riêng biệt, rây thành bột mịn, trộn đều thêm dầu mật ong đánh nhuyễn thành khối bột không dính tay, làm viên khoảng 1g. Thuốc có màu đen, hơi mềm, vị ngọt, mùi thơm. Ngày uống 2 lần, sau bữa ăn. Người lớn, mỗi lần 10-20g; trẻ em 5-10g.

Thuốc an thần, gây ngủ: Hạt vừng đen 40g rang chín; hạt đỗ đen 40g; sao hạt muồng 20g sao; lá vông 40g; lá dâu non 40g; lạc tiên 20g; vỏ núc nắc 12g, sao với rượu. Tất cả làm khô, giã nhỏ rây bột mịn thêm đường đủ ngọt luyện với hồ làm viên bằng hạt ngô. Người lớn ngày uống 2 lần, mỗi lần 20g.

Chè vừng đen nấu với hạt sen là món ăn vị thuốc an thần thông dụng của nhân dân ta cũng như nhân dân của một số nước Đông Nam Á và Trung Quốc.

Chữa táo bón do khô háo

Hạt vừng đen 300g rang chín, giã nhỏ, rây bột; lá cối xay 300g thái nhỏ, nấu với 2-3 lần nước, rồi cô thành cao đặc. Trộn bột với cao, làm thành bánh 5g. Ngày dùng 2 bánh, hãm với nước sôi, uống sau mỗi bữa ăn. Hoặc hạt vừng đen 20g; sinh địa, huyền sâm, mạch môn, sa sâm, mỗi vị 16g; thạch hộc 12g. Tất cả phơi khô, sao vàng, tán bột, luyện với mật ong vừa đủ để làm viên, ngày uống 10- 20g.

Chữa táo bón do trương lực cơ giảm

Vừng đen 12g, đảng sâm 16g; bạch truật, sài hồ, hoài sơn, kỷ tử mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang. Hoặc vừng đen 8g; hoàng kỳ, bạch truật, đảng sâm, sài hồ, thăng ma, mỗi vị 12g; đương quy, nhục thung dung, bá tử nhân, mỗi vị 8g; trần bì, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống.

Chữa tăng huyết áp , xơ cứng mạch máu: Hạt vừng đen, rễ hà thủ ô đỏ, rễ ngưu tất, mỗi vị 100g. Tất cả phơi khô, tán nhỏ rây bột mịn, trộn với mật làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g.

Hạt vừng đen ép sống, lấy dầu uống mỗi lần một thìa canh với ít rượu để chữa tụ máu, đau nhức, sưng tấy do ngã. Dầu vừng đen còn có tác dụng hạ thấp cholesterol trong mau vì chứa nhiều acid béo không bão hòa.

Ở Trung Quốc, người ta vẫn ưa chuộng một loại trà của cung đình xưa để bồi bổ khí huyết, làm cho da thịt săn đẹp, mịn màng, tăng cường tuổi thọ. Trà gồm hạt vừng đen 375g, gạo tẻ 750g, đậu đỏ; đậu tương, đậu xanh, mỗi thứ 700g, chè búp 500g, tiểu hồi 150g, hoa tiêu 75g, gừng khô 30g, muối tinh 30g. Tất cả sao vàng, tán nhỏ. Ngày dùng 6-10g, hãm với nước sôi để uống.

CÂY HUYẾT DỤ-BÀI THUỐC CHỮA CẦM MÁU

Huyết dụ còn tên gọi là phật dụ, thiết thụ (trung dược), chổng đeng (Tày), co trướng lậu (Thái), quyền diên ái (Dao), có tên khoa học là cordyline terminalis kunth. Có hai loại cây huyết dụ, loại lá đỏ cả hai mặt và loại lá đỏ một mặt còn mặt kia màu xanh. Cả hai loại đều được dùng làm thuốc, nhưng loại hai mặt đỏ tốt hơn.

Cây huyết dụ
Theo đông y, huyết dụ vị nhạt, tính mát, tác dụng làm mát máu, bổ huyết, cầm máu lại vừa làm tan máu ứ, giảm đau phong thấp nhức xương trị rong kinh, xích bạch đới, kiết lỵ, lậu, sốt xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, tiểu tiện ra máu.

Liều dùng trung bình 20 - 30g lá tươi, 8 - 16g lá khô cho các dạng thuốc sắc, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Sau đây là những phương thuốc trị liệu có dùng huyết dụ:

- Chữa chứng sốt xuất huyết (kể cả các xuất huyết dưới da): Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

- Chữa ho ra máu, chảy máu cam và chảy máu dưới da: Lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

- Chữa ho ra máu: Lá huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bách diệp sao đen 4g, lá thài lài tía 4g, tất cả phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

- Chữa các loại chảy máu (kể cả xuất huyết tử cung, tiêu chảy ra máu): Lá huyết dụ tươi 40 - 50g (nếu sử dụng lá khô, hoa khô lượng chỉ bằng nửa lá tươi), sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần. Không dùng cho phụ nữ sau khi nạo thai hoặc đẻ sót rau.

- Chữa bạch đới, khí hư, lỵ, rong huyết, viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu: Huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam (lá băn) 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

\
-Chữa vết thương hay phong thấp đau nhức: Dùng huyết dụ (cả lá, hoa, rễ) 30g, huyết giác 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

-Chữa rong kinh, băng huyết: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Thái nhỏ cho 300ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.


Hoặc lá huyết dụ tươi 20g, cành tử tô 10g, hoa cau đực 10g, tóc một ít đốt thành than, thái nhỏ, trộn đều sao vàng rồi sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần.

-Chữa đi tiểu ra máu: Lá huyết dụ tươi 20g, rễ cây rang 10g, lá lẩu 10g, lá cây muối 10g, lá tiết dê 10g. Tất cả rửa sạch để ráo nước, giã nát vắt lấy nước cốt uống.

- Chữa kiết lỵ: Lá huyết dụ tươi 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g, giã nát cho vào chút nước vắt lấy nước cốt uống ngày 2 lần.

TẮC KÈ ĐÁ GIÚP BỔ THẬN CHẮC RĂNG

Cốt toái bổ còn có tên khác là bổ cốt toái, tổ phượng, tổ rồng, tắc kè đá. Tên khoa học: Polypodium fortunei Kze. (=Drynaria fortunei (Kze.) J.Sm.).

Tắc kè đá
Cây sống trên các hốc đá, trên đám rêu hay trên các cây lớn (cây đa, cây si...). Cây sống lâu năm, có thân rễ dạng mầm, phủ nhiều vẩy màu vàng bóng. Có 2 loại lá: loại lá bất thụ là lá không cuống, màu nâu, hình trứng, dài 5 - 8 cm, rộng 3 - 6 cm, phía cuống hình tim có gân nổi rõ; loại lá hữu thụ màu xanh nhẵn, đơn, xẻ thùy lông chim, dài 25 - 40 cm, cuống lá có dìa, có thùy thuôn, tù ở đầu, có mang ổ bào tử xếp thành hàng ở mỗi bên gân chính. Cây mọc hoang ở khắp núi đá, trên cây hay dọc suối ở rừng núi nước ta.

Một số loài thuộc chi Drynaria như tắc kè đá (Drynaria bonii Christ.), ráng bay (Drynaria quercifolia (L.) J. Sm.) cũng được thu hái làm thuốc có cùng công dụng và cùng tên "Cốt toái bổ", cần chú ý.

Thu hái, chế biến: Rửa sạch đất cát, bóc bỏ lá, phơi khô ngay. Sau khi khô, đốt nhẹ cho cháy hết lông nhỏ phủ xung quanh là được. Khi dùng, thái thành lát nhỏ.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, tính ấm, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, hành huyết, phá ứ, cầm máu, khu phong, trừ thấp và giảm đau.

Công dụng: Chữa thận hư (suy giảm chức năng nội tiết), ỉa chảy kéo dài, đòn ngã chấn thương, bong gân tụ máu, sai khớp gãy xương, đau nhức xương khớp, ù tai.

Liều dùng: 6g - 12g rễ khô, dạng thuốc sắc hay ngâm rượu. Dùng ngoài không kể liều lượng: dạng tươi giã nát đắp vào vết thương, dạng khô tán bột để rắc

Đơn thuốc có cốt toái bổ:

Bổ thận chắc răng: Dùng trong trường hợp thận hư, dương phù sinh đau răng, chảy máu chân răng, răng lung lay.

+ Cốt toái bổ, liều lượng tùy ý, giã nhỏ, sao đen, tán thành bột mịn, xát vào lợi.

+ Thang gia vị địa hoàng:

Thục địa 16g, đơn bì 12g, sơn dược 12g, trạch tả 12g, sơn thù 12g, tế tân 2,4g, bạch linh 12g, cốt toái bổ 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

+ Cốt toái bổ 15g, sinh địa 10g, lá sen tươi 10g, trắc bá tươi 10g. Sắc uống. Dùng khi bị thương, gân cốt tổn thương, chảy máu; răng bị viêm, lung lay chảy máu.

+ Cốt toái bổ tán bột 4 - 6g, bầu dục lợn 1 cái. Đổ bột cốt toái bổ vào trong bầu dục lợn, nướng chín. Ăn ngày 1 quả. Chữa ù tai, đau lưng, thận hư đau răng.

+ Cốt toái bổ 16g, rễ cỏ xước 12g, cẩu tích 20g, dây đau xương 12g, rễ gối hạc 12g, thỏ ty tử 12g, hoài sơn 20g, tỳ giải 16g, đỗ trọng 16g. Sắc uống. Chữa đau lưng mỏi gối do thận hư yếu.

Tiếp cốt liệu thương (nối xương, chữa vết thương): Dùng trong trường hợp té ngã bị thương, xương gãy lâu liền.

Thuốc bột tẩu mã: Cốt toái bổ, lá sen, lá trắc bách, bồ kết, liều lượng bằng nhau. Tán thành bột mịn. Ngày 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước hoặc trộn với nước nóng thành hồ, đắp ngoài.

Chú ý: Người âm hư, huyết hư đều không dùng được.

CÂY TẦM GỬI

Theo thông tin trên mạng thì có khoảng hơn 1.300 loài tầm gửi. Hầu hết các loài tầm gửi có lá xanh giúp chúng tự tạo ra năng lượng nhờ quá trình quang hợp. Vì thế các nhà khoa học gọi nó là loài bán ký sinh. Hạt của tầm gửi được phát tán qua mỏ, chân và cơ quan tiêu hoá của loài chim. Đó là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi: Nhiều loài chim sử dụng tầm gửi để làm tổ.

Cây tầm gửi
Các nhà khoa học thuộc Đại học Charite (Đức) cho biết chất chiết xuất từ một loài tầm gửi - Loranth, có khả năng kích hoạt một số tế bào miễn dịch tấn công virut viêm gan C và có khả năng lọc sạch các tế bào bệnh, làm cho gan bệnh nhân sớm phục hồi. Cây tầm gửi trên cây dâu (tang ký sinh): có tác dụng trị các chứng đau nhức xương cốt, lợi sữa, an thai. Để trị chứng phong thấp thường phối hợp với các vị thuốc khác (trong bài thuốc độc hoạt tang ký sinh).

Gần đây có những phát hiện mới về dược tính của tang ký sinh trong quá trình điều trị của một số thầy thuốc đông y: Bệnh nhân bị cao huyết áp sau điều trị huyết áp trở lại bình thường. Bệnh nhân kèm chứng đường huyết cao, sau điều trị đường huyết giảm rõ rệt. Bệnh nhân kèm chứng co thắt mạch vành thường có cơn đau thắt ngực như dùi đâm, sau điều trị triệu chứng đau mất hẳn. Bệnh nhân kèm chứng chức năng thận suy yếu, sau điều trị chức năng thận trở lại bình thường. Tầm gửi trên cây bưởi được dùng chữa các bệnh khớp, ăn uống khó tiêu.

Tầm gửi cây gạo: trong nhân dân có nhiều người cho rằng tầm gửi cây gạo có công dụng giải nhiệt, điều hòa huyết áp và tốt cho người bệnh gan, thận... nên nhiều người săn tìm mua làm thuốc. Theo kinh nghiệm của những người dân thì tầm gửi tốt được phân biệt như sau: phải là tầm gửi trên cây gạo tía, còn loại gạo trắng thì không tốt bằng; nếu là loại tươi thì cành phải giòn, lá xanh, bóng. Còn nếu là loại khô thì phải có mùi thơm, được nắng, sau khi phơi khô nhưng thân và lá vẫn có màu xanh. Tầm gửi khô được bảo quản trong các lớp nilông buộc kín, ngoài cùng bọc bao tải, được treo lên cao hoặc để ở những nơi khô ráo như gác bếp, tủ chè…

Tầm gửi là vị thuốc nam rất tốt cho sức khoẻ được lưu truyền trong dân gian, ngoài tầm gửi cây gạo còn có những loại khác cũng có công dụng riêng như: tầm gửi cây na, cây mít chữa sốt rét; tầm gửi cây xoan chữa kiết lỵ, táo bón; tầm gửi cây chanh chữa ho… tuy nhiên giá cả không thể sánh với tầm gửi cây gạo. Cách dùng các loại tầm gửi đều giống nhau, cành và lá đều được cắt thang, đem phơi nắng già hoặc sao khô, rồi đun nước uống. Tầm gửi cây gạo có mặt trong rất nhiều các bài thuốc nam, thuốc bắc. Công dụng: Mát gan, thải độc cho người bị thận (viêm cầu thận); chữa sỏi thận, phù thận, chức năng gan yếu; tăng thể lực cho người mệt mỏi, gây thèm ăn, dễ ngủ, tiêu phù. Cách dùng: Đun, sắc uống hằng ngày.

CHỮA SỞI THEO ĐÔNG Y

Y học cổ truyền gọi là bệnh thời khí do lục dâm gây ra. Bệnh sởi còn gọi là ma chẩn, sa tử, bệnh xuất hiện những nốt đỏ trên da, nổi hơi cao, sờ tay có cảm giác như hạt vừng nên gọi là ma chẩn, cần phân biệt với phong chẩn (nốt ban không nổi cao trên da). Sởi là một bệnh cấp tính truyền nhiễm mà trẻ em thường mắc, hay gặp vào mùa đông - xuân. Trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi thường hay mắc hơn.

Rau kinh giới
Bệnh sởi chia làm 3 thời kỳ

Thời kỳ khởi phát (từ khi phát nóng đến ngày sởi mọc khoảng 3 - 5 ngày). Bắt đầu ho, phát sốt, ngạt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, chảy nước mắt, mỏi mệt, buồn ngủ, thân nhiệt cao dần, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc hơi vàng, đồng thời ăn kém, ỉa chảy phân loãng.

Phép chữa: Làm cho nọc sởi xuất ra ngoài.

Bài thuốc: Lá dấp cá 16g, rau rệu 16g, cam thảo đất 12g, đậu cọc rào 12g. Các vị tươi càng tốt, rửa sạch, đổ 300ml nước, sắc lấy 150ml chia làm 2 lần uống, tuỳ tuổi lớn nhỏ mà thêm bớt liều lượng. Cứ cách 3 giờ lại cho uống 1 lần.

Thời kỳ sởi mọc (kể từ khi mới mọc đến khi sởi mọc đều khắp người ước độ 3 ngày). Thời kỳ này các triệu chứng lâm sàng lúc sởi mọc nặng thêm nóng dữ dội hơn, buồn phiền khát nước, ho suyễn nặng thêm, tiêu chảy, màu sởi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng nhớt, chất lưỡi đỏ, nặng hơn nữa thì lưỡi khô.

Phép chữa: Thanh nhiệt giải độc (làm dịu nóng và giải độc)

Bài thuốc: Lá tre 20g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, cam thảo đất 12g, sài đất 16g, ngân hoa 16g, củ sắn dây 12g.

Sắc 600ml nước lấy 300ml chia làm nhiều lần, mỗi lần uống 30 - 40ml, cách 3 giờ uống 1 lần.

Thời kỳ sởi bay (kể từ khi sởi mọc đến khi sởi lặn hết độ 3 ngày).

Nếu bệnh nhi bình thường, không có kèm triệu chứng gì khác sau khi sởi mọc 3 ngày, bắt đầu sởi lặn, nóng sốt cũng lui theo, các triệu chứng cũng hết.

Nếu lúc này mà bệnh nhi có xuất hiện những hiện tượng như: gò má đỏ, nóng cơn, ho ít đờm, ra mồ hôi trộm, rêu lưỡi nhuận, sáng, chất lưỡi đỏ mà khô, mạch tế sác đó là nhiệt độc của sởi còn sót lại làm cho hao tổn tân dịch của phổ và dạ dày.

Phép chữa: Phải bồi dưỡng tân dịch.

Nếu sau khi sởi bay có biến chứng lỵ, cho uống: rau má 20g, rau sam 16g, lá mơ 16g, củ phượng vĩ 12g, cam thảo dây 8g, cỏ nhọ nồi 12g, vỏ núc nác 12g sắc với 400ml nước lấy 150ml chia 2 - 3 lần uống. Nếu sau khi sởi bay vẫn ho kéo dài, cho uống: vỏ rễ dâu 20g (tẩm mật sao vàng), mạch môn 12g, cam thảo dây 8g, bách hộ 12g, lá táo 8g, lá chanh 6g sắc với 400ml lấy 150ml chia 2 - 3 lần uống.

KHẾ GIẢI ĐỘC HIỆU QUẢ

Theo Đông y, quả khế gọi là ngũ liễm tử có vị chua chát, tính bình, không độc, tác dụng khử phong, thanh nhiệt, giải uế, giúp làm lành vết thương.Khế thường được dùng chữa cảm sốt, khát nước, ngộ độc rượu, đi tiểu ít, nhiệt độc, vết thương chảy máu.

>>>Quả la hán hỗ trợ điều trị bệnh ho lao
>>>Vừng đen giúp bổ não,mạnh gân cốt
>>>Cây huyết dụ:Bài thuốc chữa cầm máu

Khế được dùng chữa cảm sốt,ngộ độc rượu,...
Ngày dùng 40 - 80g tươi, ăn sống như rau hoặc giã nát vắt lấy nước uống. Hoa khế có vị ngọt, tính bình, tác dụng giải độc tiêu viêm. Thường dùng chữa sốt rét, ho khan, ho đờm, kiết lỵ, trẻ em bị kinh giản.

Người ta thường dùng hoa khế tẩm nước gừng hoặc tẩm rượu gừng rồi sao thơm, sắc uống để chữa ho đờm.

Ngày dùng 4 - 12g. Vỏ thân và lá khế có vị chua, chát, tính bình, tác dụng lợi tiểu, tiêu viêm.

- Chữa nước ăn chân, lở loét, đau nhức: Lấy 1 - 2 quả khế chín, vùi trong tro nóng để vừa ấm rồi áp lên chỗ đau.

- Chữa bí tiểu, đau tức bàng quang: Khế chua 7 quả, mỗi quả chỉ lấy 1/3 phía gần cuống. Nấu với 600ml nước, sắc còn 300ml, uống lúc còn ấm nóng. Ở ngoài, lấy 1 quả khế và 1 củ tỏi giã nát nhuyễn, đắp vào rốn.

- Chữa cảm cúm, mình mẩy đau nhức: Khế chua 3 quả, nướng chín, vắt lấy nước cốt, hòa với 50ml rượu trắng, uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần uống vào lúc không no không đói quá.

- Chữa cảm sốt, nhức đầu, đi tiểu ít, cảm nắng: Lá khế tươi 100g sao thơm, nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Hoặc dùng lá khế tươi 100g, lá chanh tươi 20 - 40g, hai thứ rửa thật sạch, giã nát, vắt lấy nước chia 2 lần uống trước bữa ăn.

- Chữa viêm họng cấp: Lá khế tươi 80 - 100g, thêm ít muối, giã nát, vắt lấy nước cốt, chia 2 - 3 lần để ngậm và nuốt dần.

- Chữa ho khan, ho có đờm: Hoa khế (sao với nước gừng) 8 - 12g, cam thảo nam 12g, tía tô 8 - 10g, kinh giới 8 - 10g. Nấu với 750ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

MÓN CANH GIÚP ĐIỀU HÒA KINH NGUYỆT

Nhiều phụ nữ phải tìm đến cơ sở y tế phá thai bởi “đèn đỏ” phập phù khiến họ bị “vỡ kế hoạch”. Một số món ăn như canh thịt lợn ngó sen, canh mộc nhĩ đường đỏ... có thể giúp kinh nguyệt đều đặn hơn.

Canh thịt lợn nấu ngó sen có tác dụng cầm máu,bổ huyết...
Canh mộc nhĩ nấu đường đỏ

Mộc nhĩ 20 g, đường đỏ 40 g, nước đủ dùng. Mộc nhĩ ngâm cho nở rồi rửa sạch, thái nhỏ. Cho mộc nhĩ, đường đỏ vào nồi, đổ nước, đun 20 phút là dùng được, ăn cả nước và cái, liên tục trong vòng 7 ngày, mỗi ngày 1 lần.Mộc nhĩ có tác dụng hoạt huyết, chữa các bệnh khí hư, tăng huyết áp... Đường đỏ bổ huyết hoạt huyết, chữa các bệnh đau bụng sau sinh, thống kinh, bế kinh.

Canh thịt lợn nấu ngó sen

Thịt nạc thăn 200 g, ngón sen 300 g, nước, gia vị đủ dùng. Thịt lợn, ngó sen rửa sạch, thái miếng. Phi thơm hành mỡ rồi đổ thịt nạc vào xào qua, sau đó cho ngó sen vào rồi đổ nước sâm sấp đun chín nhừ, nêm gia vị, ăn ngày một lần, liên tục trong vòng 1 tuần. Món canh này có tác dụng cầm máu, bổ huyết, phù hợp cho những người hành kinh dài ngày.

Canh thịt dê nấu với câu kỷ tử, đương quy

Thịt dê 200 g; câu kỷ tử, đương quy mỗi thứ 20 g; gia vị, nước đủ dùng. Thịt dê rửa sạch, thái miếng, câu kỷ tử, đương quy rửa sạch.

Cho cả 3 thứ trên vào nồi nấu chín nhừ, nêm gia vị, ăn cả nước lẫn cái, liên tục trong 7 ngày, mỗi ngày một lần. Món canh này có tác dụng điều kinh, chữa kinh nguyệt không đều.

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT-CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Theo Tây y, nguyên nhân gây nên bệnh sốt xuất huyết là do vi rút Đengue lây truyền, do Muỗi vằn có tên AĐex. Theo Đông y là do ôn bệnh dịch lê nhiệt độc tác động vào doanh vệ khí huyết, tạng phủ, triệu chứng lâm sàng.


Cam thảo
Giai đoạn đầu: Ứng vào doanh vệ khí huyết tương đương với độ 1 độ 2 theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới:

Sốt cao liên tục 39 – 40o, đau đầu dữ dội, sốt nóng, có khi rét đau mỏi khắp thân thể, có khi nôn. Mạch hồng đại hoặc hoạt. Mặt đỏ, toàn thân đỏ, ngày thứ 3 trở đi thường xuất hiện các ban đỏ ở lưng, bụng hoặc các chấm xuất huyết dưới da, đặc biệt là nhìn mắt thấy xung huyết đỏ.

Giai đoạn 2 sau 5 – 7 ngày, sốt thường không cao, có khi tụt nhiệt độ, người mệt li bì, trên người lấm tấm mồ hôi dính; có biểu hiện xuất huyết chân răng, máu mũi; nặng thì nôn ra máu, đại tiểu tiện ra máu, phụ nữ hành kinh ra nhiều. Mạch nhược hoặc vi tế tương đương với độ 3 – 4 của tổ chức Y tế thế giới.

Chẩn đoán phân biệt
.

Bệnh thường xẩy ra vào mùa hè hoặc mùa thu cho nên những bệnh sốt vi rút cúm, sốt thương hàn, sốt rét, sốt nhiễm trùng, nhiễm độc thường làm ta dễ nhầm. Sốt vi rút cũng có mạch hồng đai nhưng có biểu hiện xưng họng, ho sổ mũi; sốt rét cũng mạch đai nhưng nóng từng cơn; sốt nhiễm trùng có viêm tấy người lơ mạch tê sác; sốt thương hàn mạch nhiệt phân ly.

Chẩn đoán bát cương: Lý thực nhiệt.

Bát pháp

+ Thanh nhiệt lương huyết giải độc độ 1 – 2.

+ Bổ khí hoà huyết: chỉ huyết giai đoạn 3 – 4.

+ Nâng cao thể trạng phục hồi cơ thể, giai đoạn phục hồi.

Tôi xin trình bày kinh nghiệm cá nhân về điều trị xuất huyết giai đoạn 1 – 2.

Thể nhẹ: Phổ biến cho bệnh nhân nghỉ ngơi ăn uống những thứ mát dễ tiêu hàng ngày dùng: Rau má 1 nắm, Cỏ nhọ nhồi 1 nắm, Cỏ màn chầu 1 nắm ,Ngải cứu 1 nắm. Tất cả giã nát, vắt nước cốt uống tươi, bã đắp vào vùng bách hội dũng tuyền và cần theo dõi chặt chẽ để báo cho thầy thuốc.

Nếu nặng : Đơn quỷ: 15g khô hoặc 30g tươi kết hợp với bài Tiểu sài hồ:

Sài hồ nam 12g, Hoàng cầm 8g, Bạch linh 8g, Bạch thược 8g, Sinh khương 4g, bán hạ 8g, cam thảo 4g, đảng sâm 8g,

HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY

Tiêu chảy là hội chứng gặp ở nhiều bệnh khác nhau. Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng, số lần đi ngoài nhiều hơn so với bình thường hoặc có kèm theo chứng đau bụng, nôn mửa hoặc có sốt. Nguyên nhân thường là nhiễm phải khí lạ hoặc thấp nhiệt (tiêu chảy nhiễm khuẩn), ăn uống bị tích trệ (nhiễm độc) hoặc do tỳ vị hư, không tiêu hoá được thức ăn.

Vỏ quýt
CÁC LOẠI TIÊU CHẢY THƯỜNG GẶP

Tiêu chảy do phong hàn (do lạnh)

Triệu chứng
: Nóng, rét, nhức đầu, đau khắp người, bụng sôi, tiêu chảy, phân nhiều nước, lổn nhổn trắng hoặc xanh, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

Điều trị: Phân tán, biểu cảm, cầm đi ngoài.

Bài thuốc: Hương phụ 20g, Búp ổi 20g, Búp sim 20g, Vỏ quýt 10g, Củ sả 10g, Gừng tươi 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chú ý: Theo dõi bệnh nhân thường xuyên, nếu mất nước nhiều phải kết hợp điều trị với Tây y hoặc đưa bệnh nhân tới cơ sở y tế gần nhất.

Tiêu chảy do thấp nhiệt ( Tiêu chảy, nhiễm khuẩn: Thường xảy ra mùa hè, mùa thu.

Triệu chứng: Đau bụng phải đi ỉa ngay, phân vàng, mùi khắp, hậu môn đỏ nóng, tiểu tiện ít, đỏ, khát nước, rêu lưỡi vàng.

Điều trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, cầm đi ngoài.

Bài thuốc: Cát căn 20g, Rau má sao 10g, Mã đề sao 20g, Cam thảo dây 10g, sắc uống ngày 1 thang. Nếu bệnh nhân mất nhiều nước, cần kết hợp điều trị với Tây y hoặc đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Tiêu chảy do ăn uống

Triệu chứng
: Đau bụng, đi ngoài xong đỡ đau, phân nặng mùi, không muốn ăn, rêu lưỡi nhợt.

Điều trị: Tiêu hoá thức ăn, chống ứ trệ.

Bài thuốc: Hương phụ 10g, Vỏ quýt 6g, Gừng khô 3 lát, Củ sả 6g, Khổ sâm 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

CÁC CHỨNG ĐAU Ở TAI,MŨI

Theo Đông y, tai là khiếu (lỗ thông) của thận; kinh Túc thiếu dương Đởm và Thủ thiếu dương Tam tiêu đều gặp nhau ở tai trong, vì vậy các chứng đau ở tai có quan hệ mật thiết với các tạng kinh Thận, Đởm và Tam tiêu.

Sơn chi tử

CÁC CHỨNG ĐAU Ở TAI

Sách Phùng Thị Cẩm Nang cho rằng “bệnh ở tai do 7 nhân tố gây nên là thực nhiệt, âm hư, đàm, hoả, thấp, khí bế và can phong; từ đó dẫn tới 5 chứng tai ù, tai đau, tai sưng, tai điếc, tai chảy mủ”. Nhìn chung, bệnh mới phần lớn thuộc thực chứng, bệnh lâu ngày thuộc hư chứng. Tuy nhiên, trên lâm sàng cần linh hoạt xử lý, không nên câu nệ.

Tai mọc mụn đau (Nhĩ trĩ, Nhĩ đĩnh)

Trong tai mọc ra một mụn nhỏ, hình như hạt anh đào, hư đầu vú dê, hoặc như mụn nấm, hạt táo, sờ vào đau, thậm chí đau buốt lên tận óc, hoặc thêm chảy máu, nên gọi là trĩ tai (nhĩ trĩ) hay nhĩ đỉnh. Theo Đông y, chứng này do nộ hoả kinh can, tướng hoả kinh thận, tích hoả kinh vị bốc lên, che lấp các khiếu bên trên, uất kết không tan và khí huyết ngưng tụ gây nên.

Trị liệu: Uống thang Sài hồ thanh can gia giảm: Sài hồ 5g, Hạ khô thảo 9g, Hoàng cầm 9g, Son chi tử 9g, Cúc hoa 9g, Sinh địa 12g, Xích thược 9g, Đơn bì 5g, Liên kiều 9g, Hà diệp (lá sen) 3g. Sắc uống.

Ngoài dùng Não sa tán: Não sa 3g, Khinh phấn 9g, Hùng hoàng 9g, Băng phiến 1,5g, tất cả tán bột, hoà nước, bôi lên chỗ đau.

Tai chảy mủ đau

Trong tai lở loét, chảy máu mủ, đau nhức, phần lớn do cảm thọ phong hoả thấp nhiệt, hoặc do móc ráy tai làm tổn thương ống tai gây viêm nhiễm.

Trị liệu: Trong uống Long đởm tả can thang gia giảm: Sài hồ 5g, Long đởm 5g, Ngân hoa 12g, Liên kiều 12g, Xích thược 9g, Trạch tả 9g, Sơn chi tử 12g, Hoàng cầm 9g, Mộc thông 3g, Khổ đinh trà 5g, Lá sen 3g. Sắc uống.

Trị ngoài, dùng một trong các phương sau:

- Trần bì 3g, Băng phiến 0,5g, Đăng tâm thảo 3g (đốt lấy tro), tất cả tán bột thổi vào tai.

- Xà thoát (xác Rắn) thiêu lấy tro, thổi một ít vào tai trong.

- Hẹ tươi, giã vắt nước cốt nhỏ vào tai.

Các phương trên đều rất hiệu nghiệm.

Tai sưng bít đau

Do phong nhiệt ủng tắc bên trong; tai trong; sưng, làm bít kín không thông, đau từng cơn.

Trị liệu: Lấy 1 con ốc bươu lớn cho vào cối giã, sau cho vào 0,1g Xạ hương, chờ một lúc thành nước, lấy vài giọt nhỏ vào tai, hoặc lấy1 nhân hạt gấc (Mộc miết) mài nhỏ vào tai cũng hết đau.

THẢO DƯỢC CHỮA BỆNH TỔ ĐỈA

Đông y gọi bệnh tổ đỉa là nga trưởng phong (nếu bệnh ở bàn tay) hoặc thấp cước khí (nếu bệnh ở bàn chân).

Lá đào tươi
Biểu hiện chủ yếu của bệnh là các mụn nước nhỏ, sờ chắc ở bàn tay, bàn chân. Các mụn nước này thường xuất hiện ở mé bên, mặt sau ngón tay, lòng bàn tay; mặt bên, mặt trên và dưới các ngón chân, lòng bàn chân. Chúng không tự vỡ mà thường xẹp đi, sau đó bong vảy, nếu khêu sẽ thấy một ít nước sánh chảy ra. Kèm theo mụn nước là ngứa, nhiều hoặc ít tùy từng người. Các tổn thương không bao giờ lan lên quá cổ tay, cổ chân người bệnh.

Tổ đỉa thường phát, tái phát hoặc nặng lên về mùa xuân và mùa hè. Khi ngứa, bệnh nhân gãi làm vỡ các mụn nước, nếu vệ sinh không tốt sẽ dẫn đến nhiễm khuẩn, tạo thành các nốt mụn mủ, có thể gây ra các bọc mủ nếu nhiễm khuẩn lan rộng.

Sau đây là những phương thuốc trị liệu chứng tổ đỉa:

- Dùng một nắm lá đào tươi (50g) rửa sạch, giã nhỏ, đắp vào tổn thương, sau 30 phút tháo ra để thoáng, ngày đắp 2 lần.

- Lấy khoảng 100g lá móng tay rửa sạch, sắc trong 1 lít nước, ngâm tay chân bị bệnh trong 15-20 phút, ngày ngâm 2 lần.

Nếu ngứa nhiều nhưng không có hiện tượng nhiễm khuẩn, dùng bột đại hoàng (khoảng 15g gói trong vải mỏng, sạch) tẩm với rượu trắng xoa lên nơi ngứa.

Cho vài miếng thương truật lên bếp than hoa đang cháy nỏ, khi khói thuốc bốc lên, hơ vùng tổn thương trên khói thuốc.

- Ké đầu ngựa 20g, hy thiêm thảo 20g sao khô, sắc nước uống hằng ngày.

- Dùng thang thanh nhiệt tiêu viêm: huyền sâm 30g, liên kiều, thiên hoa phấn đều 16g; đơn bì, xích thược, mạch môn, ngưu tất, núc nác, hoàng đằng, chi tử, mộc thông đều 12g, cam thảo dây hay cỏ ngọt 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Có thể kết hợp các phương pháp trên trong cùng thời gian điều trị.

Để phòng bệnh tổ đỉa phát sinh hoặc tái phát, nên mang găng tay cao su khi tiếp xúc với các chất kích thích, bụi bẩn, nước bẩn. Giữ bàn chân khô ráo, thoáng mát nhất là về mùa nóng, đặc biệt là khe giữa các ngón chân.

THUỐC CHỮA BỆNH PASKINSON

Bệnh run ở người cao tuổi trong Y học cổ truyền tương đương với bệnh Paskinson và hội hứng Paskinson trong Y học hiện đại.

Cây thuốc chữa bệnh parkinson
Bệnh tiến triển dài ngày, có thể chia làm 3 thời kỳ: đầu, giữa và cuối; căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, cơ chế sinh bệnh của từng thời kỳ mà định ra phương pháp chữa trị khác nhau.

Biểu hiện lâm sàng của thời kỳ đầu: Đầu hoặc tay chân run hoặc tê cứng nhẹ, động tác tay chân chậm chạp, khả năng hiệp đồng chi trên giảm, còn có thể tự chủ trong sinh hoạt, biểu lộ tình cảm kém, trầm cảm nhẹ, ít nói, vẫn nghe hiểu, cảm giác kém, váng đầu hoặc nặng đầu, có lúc hồi hộp khó thở, tự ra mồ hôi hoặc ra mồ hôi trộm, kém ăn, chất lưỡi đỏ sậm, rêu mỏng trắng hoặc trắng nhờn; mạch tế sác hoặc huyền hoạt, bệnh thường là dưới một năm.

Cơ chế sinh bệnh: Cơ bản thời kỳ này thường là mộc uất thổ trệ. Can mộc có công năng hoá khí huyết, thúc đẩy vận hoá. Can chủ về cân mạc còn tỳ chủ về tứ chi, mộc uất thổ trệ thì hoá nguyên bất túc, việc sơ tiết thực hiện kém, tứ chi cân mạc không được nuôi dưỡng đầy đủ, do đó mà có hiện tượng run.
Phép chữa: là sơ can nhu cân để trị ngọn, kiện kỳ ích khí để trị gốc. Sơ can nhu cân thì chọn dùng bài thuốc Tiêu dao tán hoặc Nhất quán tiên, Linh dương câu đằng thang; kiện tỳ ích khí thì chọn dùng bài thuốc Lục quân tử thang hoặc Quy tỳ thang.

Các bài thuốc

Tiêu dao tán: Sài hồ 30g, Đương quy 30g, Bạch thược 30g, Bạch truật 30g, Phục linh 30g, Trích cam thảo 15g, tất cả nghiền thành bột thô mỗi lần uống 6 - 9g, cũng có thể sắc nước uống.

Nhất quán thiên: Bắc sa sâm 10g, Mạch đông 10g, Đương quy thân 10g, Sinh địa hoàng 30g, Cam kỷ tử 12g, Xuyên luyện tử 5g, sắc uống.

Linh dương câu đằng thang: Linh dương giác phiến 4,5g (sắc trước), Sương tang diệp 6g, Xuyên bối 12g, Sinh địa tươi 15g, Câu đằng 9g (cho vào sau), Cúc hoa 9g, Phục thần mộc 9g, Sinh bạch thược 9g, Sinh cam thảo 2,4g, Đạm trúc như 15g (sắc trước cùng với Linh dương giác), sắc uống.

Lục quân tử thang: Nhân sâm 10g, Bạch truật 9g, Phục linh 9g, Cam thảo 6g, Trần bì 9g, Bán hạ 12g, sắc uống.

Quy tỳ thang: Bạch truật 30g, Phục thần 30g, Hoàng kỳ 30g, Long nhãn nhục 30g, Toan táo nhân 30g, Nhân sâm 15g, Mộc hương 15g, Trích cam thảo 8g, Đương quy 3g, Viễn chí 3g, thêm Sinh khương 6g, Hồng táo 3-5 quả, sắc nước uống. Có thể làm hoàn mật, mỗi hoàn nặng khoảng 15g, uống khi đói 1 hoàn, chiêu với nước đun sôi, ngày uống 3 lần.

Biểu hiện lâm sàng của thời kỳ giữa: Đầu hoặc tay chân run rõ rệt, biên độ run dưới 9 cm, hoặc tay chân co quắp mức vừa phải, động tác tay vụng về, đầu cúi về phía trước, vai hơi gập, bước đi dài 20-35 cm, nhấc chân khá khó khăn, có biểu lộ lo lắng hoặc trầm cảm mức vừa phải, nói năng khó nhọc, nói lắp, sinh hoạt cần người giúp, nằm trở mình ngồi dậy khó khăn, chất lưỡi đỏ sậm, lưỡi béo, rêu mỏng trắng hoặc trơn nhờn, mạch trầm tế hoặc tế sáp, bệnh đã 2-3 năm.

Cơ chế sinh bệnh cơ bản của thời kỳ này là can tỳ, thận khuy hư, tinh huyết bất túc, cân mạc không được nuôi dưỡng, đồng thời có hiện tượng vận hoá thất thường, đàm ứ trở lại, phong hoả bên trong bốc lên. Phép chữa là khoát đàm hoá ứ thì chọn dùng bài thuốc Hoàng liên ôn đảm thang, hoặc Thông khiếu hoạt huyết thang. Tư bổ cam thận thì chọn dùng bài thuốc Tả quy hoàn, hoặc Tả quy ẩm, Lục vị địa hoàng hoàn.

ĐÔNG DƯỢC HỖ TRỢ TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY

Ung thư dạ dày là loại ung thư thường gặp, đứng đầu các loại ung thư tiêu hóa. Triệu chứng chủ yếu là vùng bụng trên (thượng vị) khó chịu hoặc đau nôn, ợ, nôn ra máu, tiêu phân đen, sờ thấy có khối u. Triệu chứng ban đầu không rõ rệt, thường dễ lẫn với viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng, rối loạn tiêu hóa. Lúc sờ thấy khối u và trạng thái bệnh nhân suy mòn thì đã muộn. Bệnh có thể mắc bất kỳ ở lứa tuổi nào nhưng thường gặp ở tuổi 40-60, nam nhiều hơn nữ.

Ảnh minh họa
Những triệu chứng thường xuất hiện khi bệnh ung thư dạ dày phát sinh ở giai đoạn đầu:

Người bệnh chưa từng có bệnh đau dạ dày rồi đột nhiên không muốn ăn uống nữa, sau bữa cơm bụng căng trướng, phần trên dạ dày đau và gầy sút giảm cân, đặc biệt là hơi thở ra có mùi chua và có mùi trứng thối. Hoặc người bệnh trước đó đã có bệnh đau dạ dày, đột nhiên lại xuất huyết đường tiêu hoá (nôn ra máu hoặc phân có máu đen).

Bình thường chất chua dạ dày ít, thích ăn đồ vật có chất chua hoặc đã chẩn đoán chính xác là bệnh viêm dạ dày có tính thu hẹp (teo bao tử), hoặc có loét thành bao tử lan rộng.

Bệnh nhân thiếu máu và gầy, sụt cân vẫn tiếp tục, kèm theo tình trạng chán ăn, ăn không biết ngon, không chuyển biến tốt.

Trường hợp xác định bệnh sớm, giải phẫu là biện pháp tốt nhất, kết hợp với dùng thuốc YHCT có thể đạt kết quả rất tốt, kéo dài thời gian sống cho người bệnh. Trường hợp phát hiện muộn: nếu sức khỏe người bệnh còn tốt, có thể dùng phẫu thuật kết hợp điều trị bằng thuốc YHCT. Nếu không có điều kiện giải phẫu, dùng YHCT là chủ yếu, phối hợp hóa trị hoặc các phương pháp khác.

Sau khi dùng hoá trị có thể kết hợp dùng các phương thuốc sau:

Thể can vị bất hòa: Biểu hiện vùng thượng vị đầy đau, ợ, buồn nôn, nôn, mạch huyền. Dùng bài: Sài hồ 6g, đương quy, bạch thược, bạch truật, phục linh mỗi thứ 9g, cam thảo 3g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Thể tâm tỳ đều hư: biểu hiện bụng đau âm ỉ, ấn chườm nóng thì đỡ đau, mệt mỏi, tay chân lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt bệu. Mạch trầm huyền nhược. Dùng bài: hoàng kỳ 12g, đảng sâm 15g, bạch truật, phục linh, táo nhân sao, đương quy, viễn chí mỗi thứ 9g cho sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Thể tỳ thận đều hư: biểu hiện cảm giác nóng cồn cào ở thượng vị. Ăn vào đau nhiều. Ngủ tâm phiền nhiệt. Đại tiện táo bón, lưỡi đỏ không rêu, mạch tế sác. Dùng bài: đảng sâm, kỷ tử, nữ trinh tử mỗi thứ 15g, bạch truật, thỏ ty tử, phá cố chỉ mỗi thứ 9g cho sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Sau khi phẫu thuật nên dùng phương thuốc hỗ trợ sau:

Trường hợp sau khi phẫu thuật, sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi, vô lực, lưỡi nhạt, mạch tế, dùng bài thuốc: uất kim, thố nguyên hồ, bạch truật, đương quy, hoàng kỳ, nga truật, cốc nha, mạch nha, mỗi thứ 10g; phục linh, bạch thược, đảng sâm mỗi thứ 12g; cam thảo 3g. Sắc uống, chia uống 3 lần mỗi ngày 1 thang. Một liệu trình là 30 thang, sau khi ngừng uống thuốc 5 ngày, tiến hành liệu trình thứ 2, tất cả từ 3 - 5 liệu trình.

Người bệnh thể tỳ vị hư hàn, khí trệ huyết ứ (khi dạ dày ung thư di căn rộng): Biểu hiện bụng đau âm ỉ, ấn chườm nóng giảm đau, mệt mỏi, chân tay lạnh, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt bệu, mạch trầm huyền nhược. Phép trị là ích khí bổ huyết. Dùng bài thuốc: ô xà 120g, ngô công 40 con; thổ miết, toàn yết mỗi thứ 60g; bạch truật 100g. Tất cả đều để chung nghiền nát thành bột. Mỗi lần uống 6g, một ngày 2 lần, uống với nước sôi để ấm.

THUỐC NAM TRỪ HO TIÊU ĐỜM

Để phòng và chữa trị những bệnh đường hô hấp trong mùa lạnh, Đông y có nhiều bài thuốc rất hiệu quả. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo áp dụng.

Trần bì
Ho do cảm phong hàn: Biểu hiện ho, đờm, ngứa cổ, đờm loãng dễ khạc, đau mình mẩy, sốt, sợ gió sợ lạnh, chảy nước mũi, khàn tiếng. Phép trị là khu phong tán hàn, tiêu đờm chỉ khái. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: phòng phong 10g, kinh giới 16g, xương bồ 16g, bạch linh 10g, trần bì 12g, bán hạ 10g, sinh khương 8g, tang bạch bì 16g, quế nhục 8g, thiên niên kiện 10g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần (uống nóng).

Bài 2: cát cánh 12g, trần bì 12g, lá xương sông 16g, lá lốt 16g, nam tục đoạn 20g, xa tiền 10g, bách bộ 12g, bán hạ 10g, thiên niên kiện 10g, tế tân 6g, sinh khương 8g, tang diệp 20g, quế nhục 6g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Ho do cảm phong nhiệt: Biểu hiện tà khí phong nhiệt vào cơ thể nung nấu tân dịch, làm cho họng khô, phổi ráo, phát sinh khái thấu. Người nóng, khát nước, hơi thở nóng, đờm vàng dính, nhiều đờm, rêu lưỡi vàng, phân táo, nước tiểu đỏ. Phép trị: thanh nhiệt, nhuận phế, tiêu đờm trừ ho. Dùng một trong các bài:

Bài 1: sinh địa 10g, ngân hoa 10g, liên kiều 10g, cúc hoa 12g, tang diệp 16g, trần bì 10g, cát cánh 16g, mạch môn 16g, thạch hộc 12g, mã đề thảo 16g, cỏ mực 20g, lá tía tô 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Bài 2: mạch môn 16g, thiên môn 16g, lá đinh lăng 18g, lá xương sông 18g, rau má 20g, cỏ mực 20g, chi tử 12g, lá mã đề 20g, tang bạch bì 16g, cam thảo 12g, ngũ vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Ho do hỏa uất: Biểu hiện ho kèm theo đau ngực, đờm dính, khạc không ra. Họng khô miệng háo, ngũ tâm phiền nhiệt, ngực sườn đầy tức, khó ngủ trằn trọc. Cảm giác vướng ở cổ họng, sốt. Nếu là nam giới dễ bị di mộng tinh. Phép trị: thanh phế giáng hỏa. Dùng một trong các bài:

Bài 1: tang bạch bì 20g, địa cốt bì 16g, mạch môn 20g, chi tử 20g, cỏ mần trầu 16g, cỏ mực 20g, rau má 20g, cam thảo đất 20g, ngân hoa 10g, hoàng cầm 12g, sinh địa 10g, lá xương sông 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Bài 2: rau má 20g, lá xương sông 20g, lá đinh lăng 20g, lá dâu 20g, cỏ mực 20g, lá vông 20g, lá mã đề 20g, râu ngô 16g, cát căn 20g, cát cánh 16g, cam thảo đất 20g, ngân hoa 10g, liên kiều 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ho do tỳ hư đàm thấp: Biểu hiện ho kéo dài, nhiều đờm, da xanh môi nhợt, khó thở, lạnh bụng, lạnh tay chân. Bụng đầy ậm ạch, ăn kém, tinh thần mỏi mệt, dễ bị sôi bụng tiêu chảy. Chứng trạng này thường thấy ở người cao tuổi. Phép trị: bổ tỳ dương, ôn phế khí, chỉ ho. Dùng một trong các bài:

Bài 1: bạch truật 16g, lương khương 12g, thảo quả 6g, sa nhân 10g, sinh khương 6g, trần bì 10g, cam thảo 12g, cát cánh 16g, thần khúc 10g, bán hạ 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: cát cánh 16g, tía tô 16g, trần bì 12g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, bạch truật 16g, ngũ vị 16g, quế 6g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 8g, cam thảo 12g, bạch linh 10g, mơ muối 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

CHỮA TRỊ RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH

Đây là bệnh chứng thường gặp ở những người từ lứa tuổi trung niên hay người già. Bệnh xảy ra thường không có dấu hiệu báo trước.

Câu đằng
Dấu hiệu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm sau khi tỉnh dậy, người bệnh đột ngột choáng váng mọi vật chao đảo, kèm theo rối loạn thần kinh thực vật làm cho toàn thân vã mồ hôi hoặc có thể da mặt bị tím tái, tim đập nhanh, buồn nôn hay nôn mửa liên tục...

Theo Đông y thường thấy biểu hiện bởi hai thể loại đó là "thực chứng" và "hư chứng".

Đối với thực chứng:

Đột nhiên ù tai rồi chóng mặt, hoa mắt, nhà cửa cảm thấy như đảo lộn, nghiêng ngửa buộc người bệnh phải luôn nhắm nghiền mắt và nằm xuống không sẽ bị ngã. Đây là trường hợp theo Đông y là do can hỏa hóa phong rồi bốc lên mà sinh bệnh là chủ yếu. Cũng có thể do đờm thấp đình trệ, mà làm khí thanh dương không đưa lên được khiến phát ra bệnh.Trong trường hợp thực chứng này người ta sử dụng phương "Thiên ma câu đằng ẩm" trích trong Tạp bệnh chứng trị tân nghĩa.

Phương gồm các vị: Câu đằng 12g, ích mẫu 12g, ngưu tất 12g, phục thần 12g, sơn chi 12g, tang ký sinh 12g, dạ giao đằng 10g, đỗ trọng 10g, hoàng cầm 10g, thạch quyết minh sống 20g, thiên ma 8g, hà thủ ô trắng 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 - 3 lần trong ngày. Uống 3 - 5 thang liền.

Phương "Nhị căn thang" (Phúc kiến Trung y dược). Tác dụng hoạt huyết hóa ứ, lợi thấp, khử đờm, trị rối loạn tiền đình, gồm: Cát căn 20g, hải đới căn 30g, xuyên khung 12g, bán hạ 10g, thạch xương bồ 16g, đại giả thạch 16g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 - 3 lần trong ngày. Cần uống 3 - 6 thang liền.

Đối với hư chứng:

Triệu chứng cũng xảy ra đột ngột bị ù tai rồi chóng mặt, hoa mắt, cơn chóng mặt cũng có thể xảy ra trong chốc lát hay mấy tiếng đồng hồ hoặc vài ngày. Đây là bệnh chứng xảy ra chủ yếu do can, thận, tâm, tỳ suy, thận kém nên không nuôi dưỡng được can huyết mà làm cho can dương vượng lên khiến phát sinh bệnh.
Với bệnh chứng này người ta thường sử dụng phương "Kỷ cúc địa hoàng hoàn" trích trong Y cấp. Gồm các vị: Bạch cúc hoa 120g, câu kỷ tử 120g, đơn bì 120g, phục linh 120g, trạch tả 120g, sơn dược 160g, sơn thù 160g, thục địa 320g. Tất cả tán bột làm hoàn. Ngày uống 8 - 16g, chiêu với nước muối nhạt.

BỆNH VIÊM MŨI

Viêm mũi cấp do ngoại tà phần nhiều thuộc chứng thực, viêm mũi mạn quá trình bệnh lâu chính khí bị thương tổn hư suy nên thường biểu hiện là chứng hư. Cả viêm mũi cấp, mạn đều có thể biểu hiện tình trạng hư thực thác tạp. Khi điều trị Thực thì dùng pháp khu tà, Hư thì dùng pháp bổ, Hư thực thác tạp thì dùng pháp bổ chính khu tà phối hợp.

Viêm mũi
Viêm mũi dị ứng

Viêm mũi dị ứng cũng là những đợt viêm mũi cấp, nhưng nguyên nhân có liên quan đến yếu tố dị ứng gây viêm. Y học cổ truyền mô tả trong chứng Tỵ cừu và Tỵ uyên.

Theo y học hiện đại: dị ứng là một phản ứng của cơ thể chống lại những chất lạ đang xâm phạm vào cơ thể, chất lạ đó gọi là kháng nguyên. Khi cơ thể bị kháng nguyên tấn công thì nó phản ứng lại bằng cách tạo ra kháng thể để trung hoà kháng nguyên. Sự đấu tranh đầu tiên này không có triệu chứng lâm sàng, nhưng trong máu người bệnh đã có sinh kháng thể, như vậy bệnh nhân đã bị mẫn cảm, đây là sự phản ứng của cơ thể đối với lần tấn công đầu tiên của kháng nguyên.

Từ đây về sau, nếu kháng nguyên ấy lại xâm nhập nữa thì sẽ xảy ra sự đấu tranh kịch liệt giữa kháng nguyên và kháng thể, quá trình này sản sinh ra nhiều chất hoá học trung gian, và chính các chất này là nguồn gốc của các biểu hiện của bệnh dị ứng, như vậy dị ứng là một bệnh toàn thân của cơ thể, và viêm mũi dị ứng chỉ là một hiện tượng cục bộ của bệnh toàn thân đó.

Nguyên tắc chung

- Đối với viêm mũi cấp tính thông thường chưa có biến chứng, chỉ cần chú ý chăm sóc, giữ gìn ấm áp, tránh gió lùa, mặc áo ấm, giữ ấm ngực, ấm cổ có thể bệnh cũng tự khỏi, chỉ nên dùng thuốc khi nào có biến chứng, nếu có dùng thuốc chỉ mang tính điều trị triệu chứng như ho, sốt, nhức đầu…

- Đối với viêm mũi dị ứng: cần chú ý phòng bệnh ngăn ngừa những dị ứng nguyên.

- Đối với viêm xoang cần ngăn chặn các biến chứng viêm họng, phế quản phế viêm, viêm phế quản mạn tính.
Ké đầu ngựa

Ðiều trị cục bộ

- Dùng nước muối sinh lý nhỏ và rửa mũi trong các trường hợp viêm mũi cấp, mạn.

- Dùng thuốc xông mũi như:

+ Quả bồ kết, nướng, tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi để gây nhảy mũi trong trường hợp mũi tắc không thông vì phế khí nghịch lên.

+ Hạt nhãn, đốt lên khói dùng ống trúc dẫn cho khói xông vào mũi trong trường hợp nước mũi chảy ra không dứt, có mùi hôi.

+ Lá lốt tán nhỏ, thổi vào lỗ mũi mỗi lần một ít dùng chữa trĩ mũi.

- Dùng tỏi 4 – 5 củ, giã nát như bùn, rịt vào lòng bàn chân, băng chặt, nước mũi tự nhiên khô ráo trong trường hợp viêm mũi cấp, mạn - viêm xoang.
Quế chi
Ðiều trị chung toàn thân

Tuỳ thuộc vào biểu hiện mà có pháp trị tương ứng:

Viêm mũi cấp tính:

Phép trị: Bổ khí cố biểu, khu phong tán hàn.

Bài thuốc: Bạch truật 12g, tang bạch bì 10g, quế chi 8g, bạch chi 12g, cam thảo 4g, ké đầu ngựa 16g, gừng 4g, xuyên khung 16g, hoài sơn 16g, tế tân 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.

Viêm mũi mạn tính.

Phép trị: Khu phong tuyên phế.

Bài thuốc: Ké đầu ngựa 16g, Cát cánh 6g, tân di 8g, cam thảo 6g, bạch chỉ 6g, hạ khô thảo 12g, bạc hà 6g.
Nếu do phong hàn giảm vị hạ khô thảo, thêm kinh giới 12g, phòng phong 8g, khương hoạt 8g.

Nếu do phong nhiệt thêm Hoàng cầm, tang bạch bì mỗi loại 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 1 giờ.

Hoặc dùng bài thuốc kinh nghiệm Tỷ tiên phương: Tế tân, tân di hoa, bối mẫu, thương nhĩ tử, tá dược.

Dạng thuốc sử dụng làm thành hoàn, dùng với nước đun sôi để nguội.

Châm cứu: Nhân nghinh, Hợp cốc, Ấn đường, Liệt khuyết.

CẢI THIỆN CHỨNG KHÓ TIÊU

Khó tiêu là biểu hiện của nhiều bệnh, gồm cả các bệnh lành tính và ác tính. Vì vậy, cần phát hiện bệnh sớm để có phương pháp điều trị kịp thời.

Rượu cũng là "thủ phạm"khó tiêu
Những “thủ phạm” gây ra chứng khó tiêu

Khó tiêu do nhiều bệnh và rối loạn gây ra, sau đây xin đề cập tới các trường hợp thường gặp. Một là, trào ngược axit dạ dày thực quản do bệnh xơ cứng bì và mang thai. Hai là, hoạt động cơ học của dạ dày bị rối loạn. Nếu bạn bị giãn đáy dạ dày có thể thấy các triệu chứng khó tiêu như bụng trướng hơi, đầy bụng, buồn nôn… Ba là, rối loạn chức năng cảm giác của dạ dày có thể dẫn đến khó tiêu chức năng. Bốn là, các yếu tố như vi khuẩn Helicobacter pylori (gây loét dạ dày), một số thuốc uống chữa bệnh như: thuốc giảm đau, nitrat, thuốc chữa tăng huyết áp loại ức chế kênh canxi, theophylin và progesteron cũng gây khó tiêu và trào ngược axit dạ dày; ngoài ra rượu, cà phê, thuốc lá, stress… cũng là thủ phạm gây khó tiêu.

Các dấu hiệu của chứng khó tiêu

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy: 40% người dân ợ nóng 1 lần/1 tháng và 7% ợ nóng hằng ngày. Gần 25% dân số thấy khó chịu vùng bụng ít nhất là 6 lần một năm nhưng chỉ 10-20% đi khám bác sĩ. Khó tiêu chức năng là nguyên nhân gây ra triệu chứng ở 60% bệnh nhân ăn không tiêu.

Nếu bạn bị trào ngược dạ dày thực quản gây khó tiêu sẽ thấy các biểu hiện:ợ nóng, cảm giác nóng dưới xương ức, bắt đầu từ thượng vị lan lên cổ, kèm theo ợ dịch axit lên miệng vừa chua vừa nóng. Dịch trào lên sẽ gây viêm hầu, họng, viêm phế quản, khàn tiếng và đau giống đau thắt ngực; có thể thấy đau bụng vùng dạ dày.

Trường hợp bạn bị khó tiêu kiểu loé tthì thấy hay ợ nóng, đau rát ở thượng vị, triệu chứng này bớt khi ăn hay dùng thuốc ức chế axit. Còn đối với những người khó tiêu kiểu rối loạn cơ học, họ sẽ thấy luôn có cảm giác đầy bụng, đau bụng, đau tăng lên khi ăn, kèm theo buồn nôn, bụng trướng, ợ hơi và mau no.

Bạn cần chú ý rằng để phân biệt khó tiêu do rối loạn chức năng hay tổn thương do bệnh phải dựa vào đặc điểm trong bệnh sử và kết quả khám bệnh. Chẳng hạn nuốt đau gợi ý do nhiễm khuẩn thực quản, còn khó nuốt có thể do tắc nghẽn thực quản. Các triệu chứng đáng chú ý khác là sụt cân, nôn nhiều gây mất nước rõ, xuất huyết tiêu hoá, khám thấy khối u…

Chứng khó tiêu cần phân biệt với một số bệnh: một là, loét dạ dày thực quản, bệnh trào ngược dạ dày thực quản có 5% bệnh nhân bị loét thực quản hoặc chít hẹp thực quản. Hai là, khối u ác tính, có dưới 2% trường hợp ăn khó tiêu do khối u ác tính của dạ dày, thực quản. Những người hút thuốc hay uống rượu hay gặp bị ung thư thực quản. Ba là, các nguyên nhân khác: người đã phẫu thuật do loét dạ dày; người bị nhiễm nấm ở thực quản có thể gây ợ nóng hay khó chịu ở ngực và gây nuốt đau; đau quặn túi mật bị ợ nóng mạn tính biểu hiện của khó tiêu; người có chứng không dung nạp lactose do thiếu men lactase cũng sinh ra trướng hơi, khó chịu và tiêu chảy; các bệnh tuyến tụy, carcinom tế bào gan, tiêu chảy mạn tính, thiếu máu mạc treo ruột, bệnh tuyến giáp và tuyến cận giáp, suy tim ứ huyết và lao... đều gây khó tiêu.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

CÂY CỎ TRỊ BỆNH TÁO BÓN

Bệnh táo bón không phải là bệnh ác tính, nguy hiểm cấp kỳ nhưng không chữa trị kịp thời sẽ trở thành mạn tính khiến người bực bội khó chịu, nặng nề. Xin giới thiệu với quý độc giả một số phương pháp trị táo bón rất hiệu nghiệm:

Ảnh minh họa
@ Cách 1: Dùng một nắm lá Mồng tơi, rửa kỹ, giã nát vắt lấy nước cốt pha với một tách nước uống, chỉ một vài lần là thấy ruột mát, đi đại tiện dễ dàng. Khi dùng thang này, tránh ăn các thứ cay, nóng, uống rượu; khi uống được vài giờ, ăn thêm củ Khoai lang luộc rất hiệu nghiệm.

@ Cách 2: Vào buổi sáng và trước khi đi ngủ, uống một ly dầu Mè, hoặc nhai một vốc Mè trắng hay đen cũng được, chỉ trong vài ba ngày là khỏi bệnh. Không được uống hoặc nhai quá 3 ngày.

@ Cách 3: Dùng một nắm rau Má tươi trộn với giấm và dầu Mè, ăn liền trong vài ngày.

@ Cách 4: Bột Rau câu uống mỗi ngày.

@ Cách 5: Lá Rau đay tươi 10 – 20g, rửa sạch sắc lên, chia uống 2-3 lần trong ngày.

@ Cách 6: Lấy nửa vốc hạt Tía tô, nửa vốc hột Me, trộn chung, giã nhỏ, đổ một bát nước vào khuấy đều, chắt lấy nước cốt, cho Gạo trắng vào nấu thành cháo, ăn rất hiệu nghiệm.

Một điều cần nhớ là khi chữa trị phải kết hợp với nhiều mặt khác như: Tinh thần thoải mái, vận động, dưỡng sinh, ăn uống, nghỉ ngơi. Riêng với táo bón cần uống nước thật nhiều, ăn nhiều rau có chất xơ và các loại hoạt trường như Khoai lang, Đu đủ, Chuối, và các loại rau cỏ khác. Coi đơi giản là vậy nhưng đôi khi nó đánh bạt cái phức tạp, tốn kém nhiều mà tây y phải nể mặt.

BỆNH CẢM MẠO VÀ PHƯƠNG PHÁP TRỊ

Cảm mạo là một trong những chứng bệnh mà con người rất hay mắc phải. Thông thường, khi bị cảm mạo, mọi người thường hay dùng thuốc Tây, lâu dần dẫn đến tình trạng bị lệ thuộc vào thuốc. Đó là điều rất bất lợi cho cơ thể mỗi người. Để tránh tình trạng đó, nhiều nhà khoa học đã chủ trương chữa bệnh cảm mạo không cần dùng thuốc...

Chữa cảm mạo không cần dùng thuốc
Gần đây, nhiều nhà khoa học chủ trương chữa bệnh cảm mạo không cần dùng thuốc. Phương pháp chữa bệnh đó vừa đơn giản lại hiệu quả, tránh được tình trạng lệ thuộc vào thuốc.

Khi mới chớm cảm mạo bạn hãy làm theo những cách sau:

@ Chuẩn bị cho một cốc Rượu nho (hoa quả cũng được), tăng nhiệt, sau đó đập vào nước một quả Trứng gà, khuấy nhẹ và thôi tăng nhiệt, bao giờ nước nguội thì đem ra uống, hiệu quả trị càm mạo rất hay. Người Đức thường dùng phương pháp này, người Pháp cũng dùng rượu Nho để trị cảm mạo nhưng không đập thêm Trứng gà mà thêm nước Chanh và Đường cát, hiệu quả cũng rất tốt.

@ Bằng cách nào đó làm cho phần lưng nóng lên, chẳng hạn như hơ lưng gần bếp lò, ngồi yên khoảng 20 - 30 phút. Làm như thế để toàn thân toát được mồ hôi, tức là trị cảm mạo. Nếu cơ thể yếu quá không thể toát ra được nhiều mồ hôi thì có thể dùng phương pháp xoa bóp để cho một ít mồ hôi ra. Xoa bóp huyệt ở tứ chi và huyệt ở dọc đường cột sống trên lưng sẽ có tác dụng giảm nhiệt, giảm đau, tăng cường hoạt động của tuyến mồ hôi da, làm hết cảm.

Ngoài ra bạn có thể:

Chuẩn bị cho 3 gam Gừng sống thái nhỏ, một quả Trứng gà, gia thêm muối ăn và nước với lượng vừa phải sau đó đập Trứng gà, nhào trộn đều, đem hầm chín rồi ăn.

Hạt Kê một nắm, rễ rau Cải trắng 1 bộ, Hành tây 1 củ cho vào xoong đem sắc lên, nước biến màu là được, trước khi đi ngủ uống một bát (uống khi còn ấm), toát mồ hôi là được.

Vỏ Lạc 20 cái, Hành tây 3 cọng, rửa sạch, cho nước đun sôi 15 phút, đổ ra bát và uống khi còn nóng, toát mồ hôi ra là được. Uống xong nằm trùm chăn cho toát mồ hôi, nếu như có thêm chứng nôn mửa, buồn nôn thì thái thêm vào 4 miếng Gừng sống, nếu như có thên chứng đau họng, ho thì thái thêm mấy miếng Lê.

CÁC CHỨNG ĐAU Ở HỌNG

Trong Đông y, Họng được chia làm 2 bộ phận là Yết và Hầu.Yết thuộc ống tiêu hoá, thuộc Vị; hầu thuộc hệ hô hấp, thuộc Phế, ngoài ra, do các tạng can Thận có quan hệ và kinh lạc tuần hành đi qua Hầu họng, nên khi chúng hoạt động thất thường cũng dẫn đến bệnh tật ở Hầu họng.

Nguyên nhân bên ngoài phần lớn là do phong nhiệt
Đau Hầu họng, nguyên nhân bên ngoài phần lớn là do phong nhiệt, nguyên nhân bên trong chủ yếu là do đàm hoả, âm hư dương cang. Về biện chứng, cần chú ý có hay không có khối sưng trong Hầu họng, vị trí và hình thái của khối sưng, bề mặt nhẵn bóng hay lồi lõm gồ ghề, màu sắc đỏ thẫm hay đỏ nhạt, khối sưng có hay không có vết loét, hoặc những hạt nhỏ hình sắc khác thường, khớp hàm cử động có trở ngại gì không, trước sau và hai bên cổ có sưng đau không… đó là những khâu chẩn đoán quan trọng.

Viêm họng cấp (Khẩn hầu phong):

Chứng này do ăn quá nhiều chất bổ, dẫn đến phế vị tích nhiệt, lại mắc phải phong tà, phong và nhiệt cùng công kích làm ủng tắc hầu họng sinh bệnh.

- Triệu chứng: Hầu họng sưng đau, tiếng nói khó, đàm tắc khàn giọng, bệnh phát rất nhanh, cần điều trị gấp.

- Trị liệu: Mới bạo phát, chích lể huyệt Thiếu thương (mé ngoài ngón tay cái) cho ra một ít máu đen để tả bớt nhiệt, bên trong cho uống bài Thanh yết lợi cách thang.

- Bài thuốc: Ngưu bàng tử (sao, giã dập), Liên kiều, Kinh giới, Phòng phong, Chi tử (để sống, giã dập), Kiết cánh, Huyền sâm, Hoàng liên, Kim ngân hoa, Hoàng cầm, Bạc hà, Cam thảo, Đại hoàng, Mang tiêu, Trúc diệp (tất cả lượng bằng nhau, mỗi thứ 3g), sắc uống cách xa bữa ăn.

Viêm họng mạn (Mạn hầu phong):

Chứng này phần lớn thấy ở người thể hư nhược, hoặc do nội thương thất tình, hoặc do ăn uống quá nhiều thứ cay.

- Triệu chứng: Bệnh phát từ từ; Hầu hơi sưng nhẹ, sắc nhạt, họng ráo, hơi đau, rêu lưỡi trắng bóng, đại tiện lỏng, mạch 6 bộ vi tế.

- Trị liệu:

- Nếu đau trước trưa, dùng Bổ trung ích khí thang gia Mạch đông, Kiết cánh, Ngưu bàng tử: Nhân sâm 3g, Đương quy 3g, Sinh hoàng kỳ 6g, Bạch truật 3g, Thăng ma 1g, Trần bì 2g, Sài hồ 1g, Cam thảo chích 3g, Mạch đông (bỏ tim) 3g, Ngũ vị tử 1,5g, Gừng tươi 3 lát, Đại táo 2 quả; sắc uống nóng, lúc đói bụng.

- Nếu đau sau trưa và khát, mình nóng, chân lạnh, nên uống bài Thiếu âm cam kiết thang: Kiết cánh 6g, Sinh cam thảo 9g, Xuyên khung 2g, Hoàng cầm 2g, Trần bì 2g, Huyền sâm 2g, Sài hồ 2g, Khương hoạt 2g, Thăng ma 2g, Hành trắng 1 nhánh; sắc uống cách xa bữa ăn.

- Nếu mặt đỏ, họng khô khát, kèm mạch hư đại, dùng bài Cam lộ ẩm: Thiên đông, Mạch đông, Hoàng cầm, Sinh địa, Thục địa, Tỳ bà diệp (Chích mật), Thạch hộc, Chỉ xác (sao), Nhân trần, Cam thảo (lượng bằng nhau - khoảng 6g); sắc uống.

- Trị ngoài dùng Băng bằng tán (xem ở bài các chứng đau lưỡi) 3g trộn thêm 1g bột Đăng thảo thiêu tồn tính thổi vào họng. Theo kinh nghiệm người dịch, có thể thay bằng cách ngậm quả Kha tử (mua ở hiệu thuốc bắc, bỏ hột) mỗi lần 1/3 quả, nuốt dần lấy nước bỏ xác, ngày 3 – 4 lần, đơn giản nhưng hiệu quả hơn.

Chứng tắc hầu họng (Hầu bế thống)

Hầu bế hay còn gọi Hầu tý, do can phế hoả thịnh, gặp phải phong hàn công kích mà thành bệnh.

- Triệu chứng: Hầu họng sưng đau, mặt đỏ má sưng, nặng thì sưng đến sau cổ, trong họng có khối như nắm tay nhỏ, uống nước không nuốt được, không nói được, người phát nóng lạnh.

- Trị liệu: Lể huyệt Thiếu thương, hoặc châm huyệt Hợp cốc để khai thông hầu họng. Bệnh mới phát dùng Kinh phòng bại độc tán để sơ tán tà độc, khi cơn nóng lạnh đã lui thì đổi dùng bài Thanh yết lợi cách tán.
- Kinh phòng bại độc tán: Kinh giới, Phòng phong, Khương hoạt, Độc hoạt, Sài hồ, Tiền hồ, Kiết cánh, Xuyên khung, Chỉ xác, Phục linh mỗi thứ 3g, Nhân sâm, Cam thảo ( lượng bằng nhau, mỗi thứ 1,5g), Gừng tươi 1 lát. Sắc uống.

- Thanh yết lợi cách tán: (xem mục viêm họng cấp ở trên).

Họng khô đau rát (Yết hầu can thống)

Do thời tiết khô hạn, lâu ngày không mưa, hoặc do ca hát diễn thuyết quá nhiều, hầu họng mất sự nhuận dưỡng mà sinh khô rát.

-Trị liệu: Trứng gà 1 quả đập bỏ vỏ, quấy đều, chế nước sôi cho chín, cho thêm 30g Mật ong, vài giọt Dầu thơm, uống ngày 1 lần trước khi đi ngủ, rất hiệu quả, hết bệnh thì thôi dùng.

Viêm Amiđan (Nhủ nga trướng thống):

Chứng nhủ nga trướng thống, tương tự như viêm Amiđan trong Y học hiện đại; theo Đông y là do các nguyên nhân ngoại cảnh lục dâm, nội thương thất tình, uất lâu hoá hoả dẫn đến.

- Triệu chứng: Hạch Amiđan sưng đỏ, hình như quả nhãn hoặc hay ngài, họng đau lan ra vùng tai, khi nói hoặc nuốt thì đau tăng, thường kèm theo các chứng ớn lạnh phát sốt, đầu căng đau nhức.

- Trị liệu: Lể nặn máu huyệt Thiếu thương, trong cho uống Gia vị Thanh yết lương cách thang: Bạc hà 3g, Tang diệp 6g, Ngưu bàng tử 9g, Ngân hoa 9g, Liên kiều 9g, Xích thược 9g, Xạ can 5g, Chích cương tàm 6g, Mã bột 3g, Chi tử 9g, Sinh cam thảo 3g, Lô căn tươi 30g; sắc uống.

Họng đau do hóc dị vật (Ngạnh thống):

Dị vật hóc cổ họng gây sưng đau khó chịu, thuộc phạm vi chứng cấp cứu, trẻ con rất dễ mắc phải. Nếu chưa tiện dùng thủ thuật giải quyết, có thể sử dụng một số phương pháp trị liệu sau:

1. Hóc xương cá: Mài hạt Trám (Cảm lãm hạch) lấy nước nuốt từ từ, một lát sau xương cá theo đàm khạc ra ngoài.

2. Hóc xương gà: Sơn tra sắc lấy nước đặc uống.

3. Hóc mạt vụn đồng sắt: Dế (Lâu cô) giã nát, chế nước nóng quấy đều rồi nhỏ vào cổ họng.

4. Hóc dằm tre gỗ: Quả Mướp già (Lão ti qua) thiêu lấy tro, mỗi lần uống 10g với rượu.

5. Hóc đầu thóc lúa: Lòng trắng Trứng gà cho vào một ít Đường cát ngậm nuốt.

6. Hóc mạt vụn thuỷ tinh: Đậu đỏ, Đại hoàng sắc lấy nước đặc uống, sau lấy xác Đậu nuốt vào, mạt vụn sẽ theo xác Đậu xổ ra ngoài.

CHỨNG CHAI CHÂN,MẮT CÁ VỚI ĐÔNG Y

Chai chân, “mắt cá chân” là một trạng thái tăng sinh, dầy lớp bì và thượng bì, nhất là lớp sừng, do chấn thương, tì ép hoặc cọ xát… lâu ngày tạo thành. Bệnh hay thường gặp ở lòng bàn chân, lòng bàn tay, lưng đốt ngón chân, ngón tay, mắt cá…

Chai chân
Vùng da chai có màu vàng xẫm, to, nhỏ, dày, mỏng tuỳ thuộc thời gian bị và tiến triển của bệnh. Thông thường ở vùng chai không đau, nhưng nếu ở gót chân và bàn chân, sau một thời gian đi bộ xa có thể sưng tấy, viêm nhiễm thành túi mủ, dưới lớp sừng dày gây đau thậm chí còn có thể gây sốt. Bệnh kéo dài có thể trở thành “mắt cá”, tổn thương nổi thành từng đám dầy sừng, màu vàng xẫm, ở giữa có nhân, ấn vào đau nhói. Mắt cá hay gặp ở lòng bàn chân, nhất là các điểm bị tỳ ép, đối diện với ngón chân số 3, 4, 5, có khi ở lưng ngón chân.

Chai chân và mắt cá chân là bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng thường gây đau đớn, khó chịu, ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và lao động của người bị.

Tây y thường chữa chai chân bằng cách ngâm nước nóng xà phòng cho bỏ lớp sừng, gọt mỏng rồi băng mỡ Salixilic 5 – 20%. Với mắt cá chân, người ta thường đốt điện hoặc khoét bỏ bằng phẫu thuật. Do phải khoét sâu, vết thương lâu liền, lại dễ tái phát hoặc để lại sẹo xơ hóa to hơn, phát triển nhanh và gây đau đớn, khó chịu.

Bài thuốc dân gian Đông y dưới đây tuy đơn giản nhưng lại rất hiệu quả trong việc chữa trị chai chân, mắt cá chân.

Bài thuốc: Hạt Gấc 15 hạt; Ô mai 5 quả; nhựa Đu đủ 10g; nhựa cây Đại 5g; muối 2,5g.

Cách chế biến: Hạt Gấc bóc bỏ vỏ gỗ để lấy cả vỏ lụa, giã nát; Ô mai bỏ hạt, giã nát. Trộn ha thứ trên với nhựa cây Đu đủ, nhựa cây Đại và muối. Chia thành 5 liều nhỏ và dùng dần.

Cách dùng: Cho một liều thuốc vào túi nilon, khoét một lỗ nhỏ vừa với mắt cá chân, băng ép lại. Khi khô, cho nước đun sôi để nguội vào cho vừa ẩm. Cứ 24 giờ lại thay băng một lần. Đắp liên tục 5 – 7 ngày liền, khi thấy chai chân “chết” quắt đen lại, ra cả “chân” thì ngưng đắp thuốc, sát trùng và băng lại để tránh nhiễm trùng. Có thể đắp lá Vông nem giã nát với muối vào chỗ tổn thương để vết thương chóng đầy miệng.

TRỊ HÔI MIỆNG BẰNG MẸO VẶT:DỄ LÀM LẠI HIỆU QUẢ

Để giảm hẳn mùi khó chịu của hơi thở, bạn có thể làm theo những cách dùng thảo dược dưới đây, vừa hiệu quả lại an toàn.

Vỏ chanh rửa sạch,nhai kỹ nuốt dần
Hơi thở có mùi là tình trạng khá nhiều người gặp phải. Nó khiến bạn mất tự tin mỗi khi giao tiếp, nghiêm trọng hơn, tình trạng hôi miệng còn có thể là do bạn đang bị bệnh nào đó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh hôi miệng như viêm nhiễm ở răng miệng, ở đường mũi họng, vệ sinh răng miệng không tốt.

Thông thường, người bị hôi miệng rất ngại đi khám để được điều trị tận gốc bệnh tình của mình mà thường tự khắc phục theo kinh nghiệm của mình hoặc của người khác mách cho. Đó cũng chính là lý do tại sao rất nhiều người bị hôi miệng thường lâu khỏi và không khỏi triệt để, đó là còn chưa kể những hậu quả không tốt có thể xảy đến.

Để giảm hẳn mùi khó chịu của hơi thở, bạn có thể làm theo những cách dùng thảo dược dưới đây, vừa hiệu quả lại an toàn.

- Rau mùi tàu: Lấy một nắm rau mùi tàu (ngò gai, ngò tàu) cho vào sắc với nước thật đặc, cho thêm một ít muối để lấy nước ngậm và súc họng. Ngậm vài phút trong miệng rồi mới nhổ ra. Làm như vậy nhiều lần trong ngày, liên tục 5-6 ngày bệnh sẽ đỡ hơn.

- Húng chanh: Húng chanh (rau tần khô, rau thơm) có thể đem sắc lấy nước đặc để ngậm và súc miệng trong ngày. Cũng giống như nước rau mùi, ngậm nước húng chanh trong miệng một lúc mới nhổ đi, ngày súc miệng vài lần và làm liên tục trong vài ngày thì hơi thở sẽ bớt mùi hôi.

- Cây hương nhu: Hương nhu còn gọi là cây é (é tía và é trắng nhưng é tía tốt hơn). Lấy 40 gr hương nhu sắc với 200 ml nước và cô đặc lại lấy nước để ngậm và súc miệng. Súc miệng nước này thường xuyên vào buổi sáng ngủ dậy và tối trước khi đi ngủ. Khi súc miệng nên ngậm trong miệng 1-2 phút rồi mới nhổ ra. Súc miệng liên tục như vậy trong nhiều ngày để cho hơi thở thơm tho hơn.

- Mật ong và quế: Để giữ hơi thở thơm tho suốt cả ngày, hãy cho 1 thìa cà phê mật ong và quế vào nước ấm và dùng hỗn hợp này để súc miệng.

RƯỢU VANG GIÚP GIẢM NGUY CƠ MẮC BỆNH TRẦM CẢM

Các nhà nghiên cứu người Tây Ban Nha cho rằng uống một lượng rượu vừa phải, đặc biệt là rượu vang, có liên quan tới việc giảm nguy cơ mắc trầm cảm. Điều này trái ngược với các nghiên cứu trước đó.

Rượu vang làm giảm nguy cơ mắc bệnh trầm cảm
Theo nghiên cứu, phụ nữ và nam giới trung tuổi uống từ 2 đến 7 ly rượu vang nhỏ mỗi tuần có ít có nguy cơ mắc trầm cảm hơn những người không uống là 32%.

Kết quả nghiên cứu này có vẻ mâu thuẫn với các nghiên cứu trước. Các nghiên cứu trước đây thường cho rằng uống rượu làm tăng nguy cơ mắc trầm cảm bởi 2 lý do. Thứ nhất uống rượu nhiều giúp che giấu các dấu hiệu của bệnh trầm cảm, thứ hai, người ta thường tìm đến rượu khi gặp những vấn đề về gia đình và tài chính. Cả hai nguyên nhân này đều là những yếu tố gây ra bệnh trầm cảm.

Giải thích lý do nghiên cứu mới này có sự mâu thuẫn với những nghiên cứu trước đó, tác giả nghiên cứu- TS. Miguel Martinez Gonzalez, một chuyên gia tim mạch và là giáo sư của khoa Y tế dự phòng và khoa Y tế công cộng trường ĐH Navarra ở Pamploma cho biết có thể là do nghiên cứu mới đã không bao gồm những người đã từng bị trầm cảm hoặc có những vấn đề về rượu.

Ông cho biết: “Trong nghiên cứu của chúng tôi, những người dân thường uống một lượng rượu vang rất ít, theo như chế độ ăn Địa Trung Hải, thường là rượu vang và không có tục uống rượu cho đến khi say”.
Nghiên cứu được công bố trực tuyến trên tạp chí Y học BMC Medicine vào ngày 29/8/2013 và đã nhanh chóng nhận được tài trợ từ các ngành công nghiệp rượu.

Nghiên cứu khảo sát hơn 5.500 người, cả nam giới và phụ nữ, trong độ tuổi từ 55 đến 80 ở Tây Ban Nha. Những người này đã tham gia vào thử nghiệm lâm sàng đánh giá chế độ ăn Địa Trung Hải về nguy cơ mắc bệnh tim và không một ai trong họ mắc trầm cảm khi bắt đầu tham gia nghiên cứu.

Sau 7 năm theo dõi, 443 người bị chẩn đoán là mắc trầm cảm. Và các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận những người uống từ 5 đến 15gr rượu vang mỗi ngày ít có nguy cơ bị trầm cảm hơn so với những người không uống rượu (một ly rượu nhỏ có chứa 9gam cồn nguyên chất).

Các nhà nghiên cứu cũng đã tính đến các yếu tố như lối sống, giới tính, tuổi tác, thói quen hút thuốc, tình trạng hôn nhân, giáo dục và mức độ hoạt động thể chất.

Mặc dù những nguyên nhân dẫn đến kết luận uống lượng rượu vừa phải có lợi cho não vẫn chưa rõ ràng, TS. Miguel Martinez Gonzalez một hợp chất trong trái nho có thể bảo vệ cho các bộ phận của não và giúp giảm nguy cơ mắc trầm cảm.

Nghiên cứu cũng đang nhận được những ý kiến trái chiều từ phía các nhà khoa học.
Bà Susan Ramsay, một giáo sư về tâm thần và hành vi con người tại trường Y Warren Alpert thuộc ĐH Brown ở Providence, cho biết: “ Khả năng khái quát hóa của nghiên cứu này là rất hạn chế. Vẫn còn quá sớm để kết luận rằng rượu thực sự là một phương pháp ngăn chặn bệnh trầm cảm”.