Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

ỨNG DỤNG CỦA CÁT CĂN TRÊN LÂM SÀNG

Cát căn (rễ củ Sắn dây) là vị thuốc thường dùng trong Y học cổ truyền, có vị cam, tân, tính lương, vào các kinh tỳ, vị.

Rễ củ sắn dây
Cát căn (rễ củ Sắn dây) là vị thuốc thường dùng trong Y học cổ truyền, có vị cam, tân, tính lương, vào các kinh tỳ, vị.

Cát căn có tác dụng giải cơ, thoái nhiệt, sinh tân, thấu chẩn, thăng dương, cầm tiêu chảy, thường dùng để chữa các bệnh ngoại cảm phát sốt, nhức đầu, khát nước, tiêu khát (tiểu đường), sởi không mọc, lỵ nhiệt tính, tiêu chảy, cao huyết áp, cổ gáy đau cứng.

Gần đây, trong Y học cổ truyền đã có nhiều nghiên cứu dùng Cát căn làm chủ dược (quân dược) chữa được nhiều bệnh đạt hiệu quả tốt.

Cát căn chữa ù tai và điếc thần kinh

Bệnh nhân bị ù tai và điếc thần kinh do mọi nguyên nhân, cảm thấy hai tai có tiếng ong ong như ve kêu, nghe kém, kèm theo váng đầu hoa mắt, miệng khô, khát nước, đêm ngủ hay nằm mơ, tiểu tiện nhiều lần, lưỡi đỏ rêu ít, mạch huyền tế sác.

Bài thuốc: Cát căn 50 – 100g, chân giò trước hoặc sườn lợn 250g, thêm 500ml nước, đun lửa nhỏ, đến khi còn 250ml thì thôi. Thêm muối và gia vị vừa đủ, mỗi ngày một lần, chia ra ăn vào sáng sớm và tối, ăn hết Cát căn và thịt, uống nước canh, 2 tuần là một liệu trình.

Nếu bệnh nhân bị ù tai đã khá lâu, đêm bồn chồn vật vã không yên thì thêm Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ, Từ thạch mỗi thứ 30g, để tăng thêm tác dụng trấn tĩnh an thần. Nếu đau lưng, chân mỏi, đêm nằm mơ nhiều thì thêm Câu kỷ tử 20g, Đỗ trọng 15g, Khiếm thực 30g để tăng thêm tác dụng bổ cốt, tráng thận. Nếu tiểu tiện nhiều lần thì thêm Can địa hoàng 30g, Sơn thù du, Ngũ vị tử, mỗi thứ 12g, ích trí nhân 10g để tăng thêm tác dụng bổ thận, dưỡng âm, liễm âm. Nếu khí hư, thở ngắn, mệt mỏi thì thêm Hoàng kỳ, Đảng sâm, mỗi thứ 30g để bổ dưỡng nguyên khí. Nếu âm hư thì uống thêm Lục vị địa hoàng thang gồm Thục địa hoàng 24g, Can sơn dược 12g, Phục linh 9g, Sơn thù du 12g, Trạch tả 9g, Đơn bì 9g. Nếu dương hư thì uống thêm Thận khí thang gồm Can địa hoàng 24g, Sơn thù du 12g, Phục linh 9g, Quế chi 3g, Sơn dược 12g, Trạch tả 9g, Mẫu đơn bì 9g, Phụ tử 3g, hiệu quả càng tốt.

Cát căn chữa chứng thụ thể beta tăng năng

Cát căn có tác dụng điều tiết chức năng của cơ thể, chỉnh sửa rối loạn chức năng thần kinh thực vật, làm cân bằng âm dương, điều hòa khí huyết. Nghiên cứu dược lý hiện đại đã chứng minh: Cát căn có tác dụng rõ rệt, chẹn thụ thể beta, hạ huyết áp, làm chậm nhịp tim, giãn mạch vành, giảm lượng sử dụng oxy của cơ tim. Có tác dụng tương tự thuốc chẹn thụ thể beta như propranolol (Inderal, Avlocardyl), cải thiện và khôi phục đoạn ST bất thường trên điện tâm đồ do thụ thể beta bị hưng phấn gây ra mà lại không ức chế tim.

Bài thuốc: Cát căn 30 – 60g, Đảng sâm 20g, Mạch đông 20g, Ngũ vị tử 15g, Toan táo nhân 20g, Sinh long cốt 30g, tuỳ tình trạng chứng bệnh mà gia giảm, sắc uống ngày một thang, chia làm 2 lần, uống lúc sáng và tối. 4 tuần là một liệu trình.

Cát căn chữa viêm mũi xoang mạn tính

Theo Y học cổ truyền, khi tà xâm nhập vào mũi (tỵ), tà độc tích trệ kết tụ ở tỵ khiếu lâu ngày làm tổn thương cơ mạc, gây ra viêm mũi xoang mạn tính. Tỵ là nơi thanh dương giao hội, các kinh thủ thái dương, túc thái dương, dương minh đều tuần hành qua mũi, cho nên bệnh ở mũi thực ra là do khí huyết kinh thái dương, dương minh tắc nghẽn, tà nhiệt uất trệ mà sinh bệnh. Cách chữa trị là dùng Cát căn khinh dương thăng phát vào kinh dương minh, phối hợp với Quế chi thang, điều hoà khí huyết kinh thái dương, tán uất giải độc, điều hòa khí huyết mà khỏi bệnh.

Bài thuốc: Cát căn 30g, Quế chi 6g, Bạch thược 6g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 6 quả, sắc uống ngày một thang, chia làm 2 lần. Người bị tắc mũi nhiều thì thêm Tân di, nước mũi vàng đặc quánh thì thêm Ngư tinh thảo (Diếp cá).

Cát căn chữa trứng cá

Trứng cá là một loại viêm mạn tính tuyến nhờn nang lông, thường xuất hiện ở mặt, cổ, ngực lưng là những nơi có rất nhiều tuyến nhờn, phần lớn ở thanh niên. Y học cổ truyền cho rằng trứng cá là do phế kinh phong nhiệt hoặc tỳ vị thấp nhiệt uất kết ngoài da mà sinh ra.

Cát căn có tác dụng: bên trong thì trừ nhiệt tà ở tỳ phế, bên ngoài thì khai tiết thấu lý, phát tán uất hỏa ở tam dương (3 kinh thái dương, thiếu dương và dương minh), do đó mà trị được cả gốc lẫn ngọn nguyên nhân sinh ra trứng cá.

Bài thuốc: Cát căn 45g, Bạch chỉ 6g, Kim ngân hoa 15g, Đào nhân 10g, Cam thảo 10g. Nếu nhiệt thịnh ở phế thì thêm Sinh thạch cao, Hoàng cầm, tỳ vị thấp nhiệt thì thêm Hoàng liên, Sơn chi, sắc nước uống, cách một ngày dùng một thang, 20 ngày là một liệu trình

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2013

CÁC BÀI TẬP ĐỂ KHUÔN MẶT TRẺ LÂU

Chẳng có ai lại muốn trên mặt mình sớm xuất hiện nếp nhăn cả. “Mẹo làm đẹp” sẽ giới thiệu với bạn 4 bài tập luyện nhỏ, mỗi ngày bạn kiên trì tập 5 phút chắc chắn sẽ giúp bạn luôn xinh đẹp và khỏe mạnh!

Thư giãn mặt
Bài tập tổng hợp


Đứng trước gương, ưỡn thẳng ngực, 2 chân dang rộng tự nhiên. Dùng mu bàn tay đỡ cằm. Cười thật tự nhiên cho các cơ trên mặt căng giãn ra. Hít vào thật sâu, đồng thời đưa 2 khuỷu tay sang hai bên, dùng ngón tay và mu bàn tay ấn nhẹ vào cằm, từ từ nâng cằm lên.

Khi khuỷu tay và tay đều cùng trên một mặt phẳng, dùng áp lực của tay đẩy cằm cho đến khi đầu hơi nhô lên cao. Nín thở khoảng 5 giây, trở về tư thế ban đầu và lặp lại các động tác. Sau khi động tác đã thuần thục, kéo dài thời gian nín thở càng lâu càng tốt (có thể 8 - 10 giây).

Bài tập cho cơ mặt

Ở tư thế ngồi, nằm, đứng đều có thể tiến hành.

Từ từ mở rộng miệng hết cỡ, sau đó dần dần mím môi vào bên trong, miệng hơi mở tạo thành hình ovan. Đặt ngón trỏ lên đỉnh xương gò má. Tiếp theo, làm động tác đẩy vòm miệng lên phía trên rồi thả lỏng (dùng ngón trỏ để cảm nhận các cơ thịt xung quanh xương gò má). Lặp lại động tác 10 - 20 lần.

Bài tập cho miệng

Miệng mở, 2 môi chúm lại. Làm động tác tiếp theo, vẫn giữ nguyên tư thế ở bước 1, nhưng mở miệng ra sao cho góc mở là lớn nhất. Dùng ngón tay ấn vào phía xương gò má, 2 tay dần dần chuyển động cho đến khi ngón tay chạm đến gần mắt thì dừng lại.Thực hiện động tác 10 - 20 lần.

Thư giãn mặt bằng tinh dầu

Lựa chọn tinh dầu massage phù hợp với da của bạn. Cần một nửa hay một muỗng cà phê ((2,5 -) 5ml) là đủ cho 5 phút massage.

Bắt đầu từ dưới cổ, vuốt nhẹ lên và sang cả hai bên, tiếp tục với những động tác lướt nhẹ từ hàm lên đến gần tai. Sau đó, xoa vòng từ má đến gần tai và xoa vòng quanh miệng.

Thực hiện vỗ nhẹ quanh mắt từ ngoài vào trong bằng các đầu ngón tay.

Từ giữa trán, vuốt lên phía trên và vuốt sang hai bên, kết thúc bằng việc xoa vòng qua thái dương.

Lặp lại động tác trên 5 lần. Bạn không cần phải rửa lại mặt vì dầu đã hoàn toàn thẩm thấu vào trong da.

GIẢM CÂN VỚI NHIỀU LOẠI TRÁI CÂY

Kiểm soát cân nặng là cách tốt nhất để được khỏe mạnh. Trọng lượng lý tưởng giúp bạn tránh được nhiều loại bệnh khác nhau, đặc biệt là bệnh tim. Vì thế, bạn nên chú ý đến thực phẩm để duy trì trọng lượng hợp lý.

Hãy giữ cho mình trọng lượng hợp lý
Sau đây là một số loại trái cây chứa ít calorie nhưng nhiều vitamin và khoáng chất, cần thiết cho quá trình giảm cân.

Thơm (khóm, dứa). Là loại trái cây không có cholesterol và chất béo. Quả thơm nổi tiếng là một “kho” cung cấp những dưỡng chất thiết yếu như vitamin, chất xơ, chất chống ô xy hóa và khoáng chất. Đây còn là một công cụ giảm cân cực kỳ hiệu quả, khi thơm chứa tới 85% nước có thể giúp bao tử no lâu hơn và giảm sự thèm ăn.

Dưa hấu. Đây cũng là loại quả không có chất béo. Dưa hấu giàu vitamin A và C, giúp hạ huyết áp và cung cấp năng lượng cho cơ thể. Dưa hấu cũng chứa rất nhiều nước nên nó có thể làm giảm sự thèm ăn.

Chuối. Chứa nhiều tinh bột hòa tan, vốn có thể thúc đẩy quá trình đốt chất béo. Chuối cũng làm cho dạ dày luôn đầy. Nếu bạn thường xuyên uống nước, sự kết hợp giữa chuối với nước giúp bạn cảm thấy no và có năng lượng hoạt động suốt cả ngày.

Táo. Là một nguồn cung cấp chất xơ. Đa số các loại táo có vị ngọt, vì vậy nó sẽ làm giảm cảm giác thèm ăn những món quà vặt như bánh kẹo. Táo cũng có thể lấp đầy và thanh lọc hệ thống cơ thể, qua đó giúp bạn giảm cân.

Cam. Một quả cam lớn chứa chưa đầy 100 calorie. Bên cạnh đó, cam chứa rất nhiều nước. Loại quả này được xem là một nguồn cung cấp năng lượng đáng kể và giúp đốt chất béo hiệu quả.

Kiwi. Vốn là một “đại lý” vitamin C. Loại quả này cũng chứa nhiều chất xơ giúp hạn chế cảm giác thèm ăn. Kiwi rất tốt cho quá trình tiêu hóa.

Chanh. Bạn có thể sử dụng chanh theo cách sau: vắt nửa trái chanh vào ly nước, thêm một muỗng cà phê mật ong rồi uống. Đây là một sự kết hợp hiệu quả để giảm cân và thanh lọc cơ thể.

Dâu. Các loại quả mọng như dâu, việt quất và mâm xôi có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa. Nhóm quả này có thể loại bỏ các chất độc và những thứ không được cơ thể tiêu hóa. Ngoài ra, loại quả này còn góp phần giảm cholesterol xấu và cuối cùng có thể làm giảm trọng lượng một cách lành mạnh.

Đào. Cung cấp năng lượng cần để khởi động quá trình tiêu hóa cũng như đem lại cho bạn hàm lượng đường cần thiết. Loại quả này nên được đưa vào chế độ ăn uống của người đang ăn kiêng.

Quả khô. Một số loại quả khô như chà là, mận và nho có thể được bổ sung với số lượng nhỏ vào chế độ ăn của bạn. Tương tự các loại trái cây tươi, trái cây khô cũng có tác dụng đốt chất béo và giảm cholesterol, giúp bạn loại bỏ cân thừa một cách lành mạnh.

MÓN ĂN TỐT CHO NGƯỜI BỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Y học cổ truyền gọi bệnh đái tháo đường là bệnh tiêu khát và chia làm nhiều thể do tỳ, do can, do phế, do thận bị rối loạn chức năng hoạt động mà sinh ra.

Món ăn tốt cho người đái tháo đường

Nguyên nhân của bệnh là do thói quen ăn uống thiếu lành mạnh, mất cân bằng dinh dưỡng sinh uất nhiệt, tâm thần bị tổn thương lâu dài làm suy giảm khí huyết vinh vệ, gây rối loạn, mất cân bằng âm dương khí huyết trong cơ thể mà chủ yếu là ở các tạng phế, tỳ, thận. Do đó chữa bệnh đái tháo đường cần ích phế kiện tỳ, bổ thận, thanh can, giáng hỏa, sinh tân. Sau đây là một số món ăn tốt cho người bệnh đái tháo đường.

Cháo củ mài: củ mài tươi 120g (hô thì 60g) thái lát mỏng, gạo tẻ vừa đủ nấu cháo ăn lúc nóng.

Cháo đậu xanh: đậu xanh xay 50g, gạo tẻ 100g, gạo nếp 50g. Gạo tẻ, gạo nếp đãi sạch, trộn chung để ráo nước. Đậu xanh ngâm đãi vỏ sạch. Tất cả cho vào nồi, nước vừa đủ, đun sôi rồi đun nhỏ lửa độ 2 giờ. Khi gạo nở nhừ lấy đũa khuấy đều, múc ra ăn sáng.

Cháo củ cải: củ cải 250g bằm nhỏ, gạo 100g, nấu cháo. Ăn nóng trong ngày.

Cháo rau cần: rau cần tươi 60g, gạo tẻ 100g. Làm sạch rau, gạo vo sạch cho cả vào nồi, nước 1 lít, nấu cháo, nêm muối và gia vị vừa ăn. Ăn nóng vào sáng và tối. Trị đái tháo đường và tăng huyết áp, có hạch ở cổ.

Cháo cá trê: gạo tẻ 100g, cá trê 250g mổ bụng, rửa sạch, thả cá vào nước sôi luộc, vớt ra lọc xương rồi cho thịt cá vào nước luộc cùng gạo đã vo sạch nấu cháo, cho muối, gia vị, bột ngọt vừa ăn. Mỗi ngày 1 bát chia ăn theo bữa cơm. Tác dụng bổ âm khai vị, trị đái tháo đường.

Canh cá chép: cá chép lượng vừa đủ làm sạch nấu với đậu đỏ, thảo quả, trần bì, tiêu bột. Ăn cùng bữa cơm.

Cá chạch kho tiêu: cá chạch 8-10 con, làm cá cắt đầu đuôi rửa sạch để ráo. Cho cá vào nồi, cho nước hàng, nước mắm, tiêu bột, hành, ướp 20 phút. Bắc lên bếp lửa riu riu, khi cá chín cho dầu vào.

Khoai lang khô tán bột hãm nước sôi uống thay trà.

Vỏ và hạt sầu riêng sấy khô, ngày dùng 16-20g sắc nước uống thay nước trà.

NHỮNG THỰC PHẨM CÓ LỢI CHO SỨC KHỎE VÀ SẮC ĐẸP

Bạn đã biết một số loại thực phẩm có thể mang lại cho bạn nụ cười tỏa nắng và làn da mịn màng, một số khác lại giúp bạn có trái tim khỏe mạnh và trí não sáng suốt. Nhưng ăn gì để có thể vừa xinh đẹp lại vừa khỏe mạnh?

Nên ăn nhiều cá
Dưới đây là những thực phẩm 2 trong 1 mà chắc chắn bạn không thể bỏ qua.

1. Dâu tây

Đẹp: Giữ cho hàm răng khỏe mạnh

Theo một tổng kết trên tờ Journal of Dentistry năm 2009 dâu tây giàu polyphenols, đứng thứ 3 trong các loại thực phẩm (chỉ sau cà phê và ô liu). Các nhà nghiên cứu tin rằng hợp chất này ức chế sự giáng hóa của tinh bột trong miệng (nhờ đó hạn chế sự hình thành những loại đường bám dính dễ dính vào răng tạo thành mảng bám) và cũng chống lại những vi khuẩn gây sâu răng và bệnh nướu răng. Chà răng bằng dâu tây sẽ làm trắng răng, nhưng do loại quả này có tính axít nên các nha sỹ khuyên không nên sử dụng thường xuyên vì có thể làm hỏng men răng.

Khỏe: Bảo vệ tim

Một nghiên cứu của trường Harvard công bố hồi tháng Giêng đã liên hệ việc ăn nhiều quả mọng với giảm nguy cơ đau tim ở phụ nữ trẻ. Nghiên cứu đã theo dõi những phụ nữ từ 25 đến 42 tuổi ăn trên 3 phần (mỗi phần bằng ½ cốc) dâu tay và/ hoặc quả mọng mỗi tuần trong 18 năm. Kết quả là những phụ nữ này giảm được 34% nguy cơ đau tim so với những người ăn dưới 1 phần mỗi tuần. Theo các nhà nghiên cứu thì hàm lượng anthocyanin trong quả mọng là yếu tố bảo vệ.

Bí quyết chọn: quả có màu càng đỏ thì càng nhiều anthocyanin.

2. Cà rốt

Đẹp: Cho da hồng hào rạng rỡ

Ăn nhiều carotenoid—sắc tố có màu cam và màu vàng có nhiều trong cà rốt và một số loại rau khác như ớt ngọt (đỏ và vàng), rau bina và rau có lá xanh thẫm – có thể mang lại làn da rám nắng tự nhiên, đó là gợi ý từ một nghiên cứu trên tờ Evolution and Human Behavior. "Các carotenoid được dự trữ ở lớp mỡ dưới da, và được bài xuất qua các lỗ chân lông, ở đây chúng được hấp thu trở lại vào lớp trên cùng của da, mang lại cho da vẻ rạng rỡ. Tuy nhiên, nếu bạn đã ăn 5 phần rau và hoa quả, thì việc ăn thêm 5 phần nữa (hoặc chỉ cà rốt) sẽ khiến da bạn dễ bị vàng.

Khỏe: Cải thiện trí nhớ

Cà rốt cũng chứa luteolin, một flavonoid làm giảm tình trạng viêm có thể dẫn đến sa sút ý thức. Nghiên cứu trên tờ Journal of Nutrition năm 2010 cho thấy chuột nhắt ăn chế độ ăn chứa luteolin có trí nhớ không gian tốt hơn và ít viêm hơn chuột không ăn luteolin. Luteolin có trong ớt ngọt, cần tây, hương thảo và húng tây.

3. Trà xanh

Đẹp: Chống hơi thở hôi

Nếu hơi thở “có mùi”, hay thử một tách trà. Nghiên cứu đã cho thấy uống trà xanh hoặc trà đen không đường giúp tránh được hơi thở hôi. Cả hai loại trà này đều có chứa chất chống ôxy hóa gọi là các polyphenol giúp phá vỡ sự phát triển của những vi khuẩn khiến hơi thở có mùi hôi.

Một nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Pace đã thấy rằng tinh chất trà xanh có hiệu quả chống loại nhiều loại vi khuẩn ở miệng do ngăn không cho chúng phát triển. Polyphenol cũng làm giảm các hợp chất lưu huỳnh gây mùi khó chịu.

Khỏe: Làm giảm viêm

Trà xanh chứa nhiều chất oxy hóa mạnh giúp chống viêm. (Viêm mạn tính đóng vai trò đáng kể—là nguyên nhân hoặc hệ quả—trong nhiều bệnh, bao gồm tiểu đường týp 2, bệnh tự miễn và 3 bệnh gây chết người hàng đâu ở Mỹ: bệnh tim, ung thư và đột quị.).

Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Y tế Đại học Công nghệ Texas gần đây đã phát hiện thấy rằng trà xanh có thể ức chế stress oxy hóa. "Sau 24h, những ngời dùng 500 mg polyphenol trà xanh hằng ngày—bằng khoảng 4 đến 6 tách trà—giảm một nửa mức độ stress oxy hóa," tác giả chính của nghiên cứu cho biết.

4. Cà phê

Đẹp: Bảo vệ da chống ung thư

Uống một tách cà phê mỗi ngày có thể làm giảm nguy cơ ung thư da. Trong một nghiên cứu trên hơn 93.000 phụ nữ được đăng tải trên tờ European Journal of Cancer Prevention, những người uống 1 tách cà phê có caffein mỗi ngày giảm được khoảng 10% nguy cơ bị ung thư da không phải u hắc tố. Và uống càng nhiều - tới khoảng 6 tách mỗi ngày – thì nguy cơ càng giảm. Cà phê đã khử caffein có vẻ không mang lại tác dụng bảo vệ này.

Khỏe: Lợi ích cho não bộ

Uống cà phê ở mức vừa phải—từ 1 đến 5 tách mỗi ngày—có thể giúp giảm nguy cơ sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer, cũng như bệnh Parkinson. Lý do? Các chất chống oxy hóa có trong cà phê có thể ngăn ngừa tổn thương tế bào não và tăng cường hiệu quả của các chất dẫn truyền thần kinh tham gia vào chức năng nhận thức. Các nghiên cứu sơ bộ đã nhận thấy rằng khi khẩu phần cà phê (hoặc trà) tăng lên thì tỷ lệ mắc u thần kinh đệm, một loại ung thư não, có xu hướng giảm đi. Một số nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng các hợp chất trong cà phê có thể hoạt hóa protein sửa chữa ADN trong tế bào – ngăn chặn hư hại ADN khiến tế bào trở thành ung thư.

5. Đậu phụ

Đẹp: Ngăn ngừa nếp nhăn

Đậu phụ và các loại thực phẩm từ đậu nành khác, như sữa đậu nành—rất giàu các isoflavon, có thể duy trì lượng collagen giúp da săn chắc. Trong một nghiên cứu công bố trên tờ Journal of the American College of Nutrition, chuột nhắt được cho ăn isoflavon và tiếp xúc với tia cực tím ít bị nếp nhăn hơn và có da trơn láng hơn chuột tiếp xúc với tia cực tím nhưng không được ăn isoflavon. Các nhà nghiên cứu tin rằng isoflavon giúp ngăn ngừa thoái hóa collagen.

Khỏe: Cải thiện cholesterol

Ăn 25g protein đậu nành mỗi ngày (khoảng 1 1/4 cốc đậu phụ hoặc đậu quả luộc) có thể giúp giảm cholesterol nói chung và cholesterol xấu (LDL) nói riêng, đó là gợi ý từ một tổng kết 30 nghiên cứu. Một giả thuyết là protein đậu nành làm giảm cholesterol bằng cách giúp gan thải trừ LDL nhiều hơn ra khỏi cơ thể.

6. Cá hồi

Đẹp: Bảo vệ mắt

Phân tích mới đây từ 9 nghiên cứu trên 88.000 người tham gia cho thấy những người ăn ít nhất 2 phần cá có dầu (như cá hồi, cá mòi, cá thu, cá trích) mỗi tuần giảm được 1/3 khả năng bị thoái hóa hoàng điểm tuổi già (AMD) so với những người không ăn. TS Elaine Chong, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Mắt, Đại học Melbourne, Australia, giải thích rằng các axít béo omega-3—nhất là DHA—có trong cá là thành phần chủ chốt của các tế bào thần kinh trong võng mạc. "DHA có nồng độ ở võng mạc cao hơn nhiều các nơi khác trong cơ thể, do đó thiếu hụt chất này có thể khởi phát AMD." Vì vậy hãy ăn nhiều cá, và không chỉ có thể, các loại nhuyễn thể có vỏ, như sò và cua, cung cấp kẽm, một chất dinh dưỡng khác có trong mắt và cũng giúp bảo vệ mắt chống lại AMD.

Khỏe: Cải thiện tâm trạng

Các omega-3 có trong cá hồi (và các loại cá có dầu khác) làm biến đổi những chất trong não có liên quan với tâm trạng - đặc biệt là dopamine và serotonin. Nồng độ thấp của serotonin có liên quan với trầm cảm, hung hãn và khuynh hướng tự tử, trong khi dopamine là chất được giải phóng ở não trong những trải nghiệm dễ chịu như ăn uống hay tình dục.

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

NẤM MỠ-THỰC PHẨM LÝ TƯỞNG CỦA NHIỀU BỆNH

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, nấm mỡ vị ngọt, tính mát, có công dụng bổ tỳ ích khí, nhuận phế hoá đàm, tiêu thực lý khí, rất thích hợp cho những người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu, sản phụ thiếu sữa, viêm phế quản mạn tính, viêm gan mạn tính, hội chứng suy giảm bạch cầu...

Nấm mỡ rất thích hợp với người chán ăn mệt mỏi do tỳ vị hư yếu...

Sách Bản thảo cương mục viết nấm mỡ có tác dụng “ích tràng vị, hoá đàm lý khí”. Sách Y học nhập môn thì cho rằng nấm mỡ có khả năng “duyệt thần, khai vị, chỉ tả, chỉ ẩu” (làm cho tinh thần sảng khoái, kích thích tiêu hoá, cầm tiêu chảy và cầm nôn.

Theo dược lý học hiện đại, nấm mỡ có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn thương hàn và trực khuẩn coli. Gần đây, người ta cũng đã nhận thấy việc dùng nấm mỡ làm thức ăn hàng ngày hoặc thường xuyên uống nước sắc loại nấm này có thể trị liệu viêm gan mạn tính và chứng giảm thiểu bạch cầu, hiệu quả đặc biệt nâng cao khi dùng kết hợp với ngũ vị tử, có thể đạt tới 73%.

Ngoài ra, nấm mỡ còn có tác dụng làm giảm đường máu, hạ nồng độ cholesterol trong huyết thanh và cải thiện chức năng tuyến tuỵ. Bởi vậy, nấm mỡ là một trong những thực phẩm lý tưởng dành cho những người bị bệnh tim mạch, đái đường, ung thư và bệnh lý tuyến tuỵ.

Dưới đây, xin được giới thiệu một số công thức điển hình có sử dụng nấm mỡ để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

Công thức 1: Nấm mỡ 200g, đùi ếch 100g, hành, gừng tươi, tỏi, hạt tiêu, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Đùi ếch bỏ da, rửa sạch, rán non; nấm mỡ bổ đôi, chần qua nước sôi, để ráo nước. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào lẫn đùi ếch với nấm, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Ích vị kiện tỳ, lý khí hoá đàm, thanh nhiệt lợi niệu.

Công thức 2: Nấm mỡ 200g, tôm tươi 500g, cà rốt, măng củ, hành, gừng tươi, dầu thực vật, bột đao và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, khía hình chữ thập trên mũ, chần qua nước sôi, để ráo nước; tôm bóc vỏ, bỏ đầu, rửa sạch, ướp nước gừng và gia vị; cà rốt và măng củ rửa sạch, thái mỏng. Phi hành cho thơm rồi xào lẫn tôm với cà rốt và măng trước, kế đó cho nấm vào, đun to lửa một lát là được, chế đủ gia vị. Công dụng: Bổ thận tráng dương, kiện tỳ ích vị, hoá đàm tiêu thực.

Công thức 3: Nấm mỡ 150g, đậu phụ 300g, măng củ 100g, nước dùng (nước luộc gà hoặc nước ninh sườn) 200ml, hành, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Nấm rửa sạch, bổ đôi, chần qua nước sôi; măng thái mỏng; đậu phụ xắt miếng nhỏ. Tất cả cho vào nồi, chế đủ gia vị, đổ nước dùng vào đun sôi chừng 10 phút là được. Công dụng: Kiện tỳ ích vị, sinh tân nhuận táo, thanh nhiệt giải độc.

Công thức 4: Nấm mỡ 350g, lòng non lợn 500g, hành, tỏi, gừng tươi, dầu thực vật và gia vị vừa đủ. Lòng non làm sạch, cắt đoạn chừng 2cm, gừng thái phiến, hai thứ cho vào nồi áp suất đun trong 2 phút rồi lấy ra, để ráo nước; nấm mỡ rửa sạch, chần qua nước sôi. Phi hành tỏi cho thơm rồi xào nấm với lòng non, chế đủ gia vị, ăn nóng. Công dụng: Kiện vị tiêu thực, lý khí hoá đàm, thanh tràng chỉ huyết.

Theo kinh nghiệm dân gian, nấm mỡ là thứ “phát vật” (thức ăn dễ gây dị ứng) nên những người mẫn cảm với nấm thì không nên dùng. Sách Ẩm thực chính yếu viết: “Ma cô, động khí phát bệnh, bất khả đa thực”. Sách Phẩm quảng tinh yếu viết: “Ma cô, lệnh nhân chư thang trung thực chi, vị thậm tiên mỹ, đãn bất khả đa thực, do kỳ động khí nhi phát bệnh cố dã”. Sách Tuỳ tức cẩm thực phổ viết: “Ma cô, đa thực phát phong động khí, chư bệnh nhân giai kỵ chi”. Tất cả ý muốn nói, nấm mỡ là thứ dễ gây dị ứng nên những người có cơ địa dễ mẫn cảm cần thận trọng khi dùng.




CAM THẢO VỚI ĐỜI SỐNG TÌNH DỤC DÀNH CHO QUÝ ÔNG

Cam thảo có tên khoa học là glycyrrhiza glabra, dùng làm thuốc dưới dạng rễ khô ngâm nước sôi, dạng trích tinh lỏng, trích tinh khô.


Cam thảo
Trong Đông y cam thảo khi được dùng phối hợp với các vị khác trong một bài thuốc, nó có tác dụng hỗ trợ, điều hòa, hợp lực, điều vị. Tuy nhiên, quý ông cần lưu ý khi sử dụng dài ngày cam thảo. Tại sao?

Tác dụng dược lý của cam thảo

Theo các nghiên cứu hiện đại cam thảo có các tác dụng sau:

Giải độc: glycyrrhizin và các muối (Ca, Na...) trong cam thảo có tác dụng khử độc của thuốc, kim loại, giúp bảo vệ gan trong viêm gan mạn tính, ngăn độc tố tác dụng lên tim, chữa ngộ độc strychnin, cocain chlohydrat, chloralhydrat. Cam thảo có khả năng chống lại chất độc của cá, thịt lợn, nọc rắn, độc tố uốn ván và bạch hầu.

Chống co thắt cơ trơn: do tác dụng của các flavonoid.

Điều trị loét dạ dày: cam thảo kích thích sự phòng thủ của cơ thể để ngăn chặn sự hình thành các vết loét. Theo các nghiên cứu thì có 91% các bệnh nhân thành công trong điều trị viêm loét dạ dày bằng cách sử dụng cam thảo. Tuy nhiên, việc điều trị viêm loét dạ dày nên tiếp tục được điều trị thêm từ 8 - 16 tuần sau khi bệnh khỏi hẳn.

Trong Đông y, ngoài tác dụng ích khí, cam thảo thường dùng để giảm độc tính một số vị thuốc hoặc điều hòa quá trình hấp thu các vị thuốc, nhất là các vị thuốc có độc tính, lạnh quá hoặc nóng quá. Đối với viêm loét dạ dày, cam thảo có khả năng ức chế tiết acid dịch vị và histamin, giúp vết loét chóng lành. Cam thảo dùng cùng với thuốc ấm thì bớt nóng, dùng với thuốc mát sẽ bớt lạnh; “bổ” không đột ngột, “tả” không qúa mãnh liệt.

Tác dụng gây hại đời sống lứa đôi

Cam thảo có mặt trong phần lớn các thang thuốc Đông y nhờ tác dụng điều hòa vị thuốc, giải độc và trị bệnh. Tuy nhiên, nam giới nên hạn chế dùng nó vì vị thuốc này có thể làm suy giảm khả năng tình dục vì có chứa chất phytoestrogen, làm giảm lượng testosterone ở nam giới. Hoóc-môn sinh dục nam này được tìm thấy ở cả hai giới và là chất quan trọng tạo ra ham muốn tình dục nên cũng ảnh hưởng đến đời sống lứa đôi của cả hai phái.

Theo nghiên cứu của tiến sĩ Mahmoud Mosaddegh thuộc Đại học Y khoa Shaheed Beheshti (Iran), hoạt chất AG trong cam thảo làm giảm lượng nội tiết tố nam testosteron bằng cách ức chế loại enzyme giúp tổng hợp nội tiết tố này gây ảnh hưởng xấu đến đời sống tình dục của nam giới. Một cuộc thử nghiệm độc lập do các nhà khoa học Iran tiến hành trên 20 đàn ông khoẻ mạnh. Những người tham gia dùng mỗi ngày 1,3g chất chiết xuất từ cam thảo phơi khô (tương đương từ 400mg - 500mg glycyrrhizic acid hoặc khoảng 10g cam thảo) trong 10 ngày liên tiếp. Kết quả, mẫu máu lấy trước khi thử nghiệm và 20 ngày sau đó đã cho thấy dùng cam thảo làm giảm khoảng 35% lượng testosteron…

Vì thế, Ủy ban châu Âu khuyến cáo nam giới không nên tiêu thụ quá 100mg AG mỗi ngày (tương đương 0,3g rễ cam thảo khô). Các nhà khoa học ghi nhận một nghiên cứu ở Ý cho biết liều dùng 500mg glycyrrhizic acid/ngày sẽ giảm đáng kể lượng testosteron ở nam giới khỏe mạnh. Việc dùng cam thảo hằng ngày (8g/ngày) trong thời gian dài sẽ làm giảm lượng testosteron, gây bất lực cho nam giới, đồng thời làm giảm miễn dịch, gây phù toàn thân, tăng huyết áp và viêm loét dạ dày. Phụ nữ mang thai nếu dùng nhiều cam thảo sẽ dễ bị sinh non hoặc sinh con dị tật, thiếu cân.

Từ đây, các nhà khoa học khuyến cáo không nên dùng cam thảo cho đàn ông bị thiểu năng sinh dục.

HẠT SÚNG TRỊ DI NIỆU ,DI TINH

Hạt súng còn có tên khiếm thực, đao khiếm, kê đầu mễ... Vị khiếm thực ở nước ta có nguồn gốc từ 2 cây: kê đầu mễ (Euryale ferox Salisb., họ súng Nymphaeaceae) và cây củ súng (Nymphaea stellata Wild., họ súng Nymphaeaceae).

Ảnh minh họa
Trong hạt súng có chứa nhiều tinh bột, protein, cellulose, Ca, P, Fe, các sinh tố B, C, acid nicotinic và caroten. Theo Đông y, hạt súng vị ngọt, sáp, tính bình; vào tỳ, thận. Có tác dụng cố thận sáp tinh, bổ tỳ, trừ thấp tiêu trệ, chỉ tiết tả. Dùng cho các trường hợp tỳ hư tiết tả, di tinh, huyết trắng, khí hư, di niệu. Hằng ngày có thể dùng 15 - 30g bằng cách luộc, ninh, sắc, tán bột.

Cách dùng khiếm thực làm thuốc

Ích thận, cố tinh: kim anh tử, khiếm thực, liều lượng bằng nhau, xay thành bột mịn, làm hoàn. Mỗi lần uống 8g, chiêu với nước cơm. Trị chứng di tinh, bạch trọc (tinh tự ra, đái đục).

Kiện tỳ, cầm tiêu chảy: sơn dược 12g, bạch truật 8g, đảng sâm 12g, phục linh 12g, khiếm thực 12g, ý dĩ nhân 12g, trần bì 12g, trạch tả 8g, thần khúc 8g, cam thảo 4g. Sắc uống khi còn nóng. Trị trẻ em tỳ hư, tiêu hóa kém, tiêu chảy kéo dài.

Thử thấp, chỉ đới:

- Khiếm thực 12g, bạch quả 12g, sơn dược 20g, hoàng bá 8g, xa tiền tử 12g. Tất cả nghiền thành bột hoặc sắc uống. Dùng cho chứng thấp nhiệt đới hạ.

- Bột khiếm thực, bột phục linh, liều lượng bằng nhau luyện với mật ong làm hoàn. Mỗi lần uống 12g, chiêu với nước muối nhạt. Trị bạch đới.

- Trị bệnh đái tháo đường: khiếm thực 63g, gan lợn 125 - 250g nấu chín ăn.

Một số món ăn - bài thuốc có hạt súng

Chè khiếm thực liên nhục: khiếm thực 30g, liên nhục 15g nấu chín nhừ thêm đường; mỗi ngày làm ăn 2 lần, đợt dùng 1 tháng. Dùng cho các trường hợp di tinh, hoạt tinh, khí hư, huyết trắng, tiểu buốt, tiểu dắt (di niệu).

Canh khiếm thực đại táo: khiếm thực 30g (sao vàng), đại táo 15g, cho nước lượng thích hợp nấu chín nhừ, cho thêm chút dấm rượu khuấy đều. Uống trước khi ngủ. Dùng cho người cao tuổi tiểu đêm, di niệu.

Canh tôm khiếm thực: khiếm thực 30g, trứng gà 2 cái, thịt lợn nạc 100g, tôm nõn 60g, cần tây, mộc nhĩ lượng tuỳ ý, thêm gia vị, nấu chín nhừ. Dùng cho người tỳ vị hư nhược, ăn kém chậm tiêu, lão suy trước tuổi.

Cháo hạt súng: bột khiếm thực 60g, gạo tẻ 150g nấu cháo, thêm muối hoặc đường. Dùng cho các trường hợp di tinh, huyết trắng, tiêu chảy mạn tính, tiểu buốt, dắt, di niệu.

Chè liên nhục khiếm thực hoài sơn: khiếm thực 250g, liên nhục 250g, sơn dược 250g, ngó sen 250g; tất cả tán bột trộn đều để sẵn. Mỗi lần dùng 30g khuấy đều với nước sôi thêm đường, ngày ăn 3 lần. Đợt liên tục 10 ngày. Dùng cho trẻ em suy dinh dưỡng, người cao tuổi... bị tiêu chảy kéo dài do tỳ hư.

Kiêng kỵ: cảm cúm khởi phát, táo bón đầy trướng bụng không dùng.

NHỮNG BÀI THUỐC CHỮA TÁO BÓN

Táo bón Đông y gọi là táo kết, nguyên nhân do khí hư, huyết hư, do nhiệt tà tích tụ ở đại trường; do âm hư sinh nội nhiệt; do ăn nhiều thức ăn cay nóng. Bên cạnh chế độ ăn uống hợp lý, Đông y có nhiều bài thuốc trị bệnh này hiệu quả, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Nên kiêng các chất cay, nóng
Táo bón do huyết hư: người bệnh gầy, niêm mạc nhợt nhạt, hay bị hoa mắt chóng mặt... Dùng một trong các bài:

Bài 1: đương quy 16g, thục địa 16g, hà thủ ô 16g, đại táo 10g, bạch thược 12g, chỉ xác 12g, đào nhân 12g, cam thảo 10g, thiên môn 16g, mạch môn 16g, hoa kim ngân tươi 15g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: hà thủ ô 16g, cỏ mực 16g, tang diệp 16g, rau má 20g, sinh địa 12g, chỉ xác 10g, đào nhân 12g, kê huyết đằng 15g, đại táo 12g, sơn tra 10g, thảo quyết minh (sao vàng) 16g, đương quy 16g, sa sâm 16g, mộc thông 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: đương quy 20g, ngưu tất 16g, chỉ xác 10g, trạch tả 10g, sinh địa 12g, ngân hoa 12g, nhục thung dung 12g, đại táo 10g, sa sâm 16g, hồng hoa 5g. Sắc uống ngày 1 thang.

Táo tón do khí trệ: thường gặp ở người cao tuổi, thể trạng hư yếu, người mệt mỏi, toát mồ hôi, hông sườn đầy ách, lưỡi đỏ, mắt đỏ... Dùng một trong các bài:

Bài 1: chỉ xác 12g, đại hoàng 5g, trần bì 12g, sinh địa 12g, sa sâm 16g, hoàng kỳ 10g, kim ngân hoa 14g, cam thảo 12g, rau má 16g, cỏ mực 20g, phòng sâm 16g, bạch thược 12g, bạch linh 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: trần bì 12g, chỉ xác 12g, mộc thông 16g, sinh địa 16g, sa sâm 16g, sâm hành 16g, thăng ma 10g, hồng hoa 6g, cam thảo 10g, mơ muối 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: mộc thông 12g, binh lang 10g, đào nhân 12g, hồng hoa 8g, nhục thung dung 10g, sinh địa 10g, trần bì 10g, sa sâm 16g, cam thảo 10g, đại táo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Táo bón do nhiệt tà tích tụ ở đại trường: người bệnh miệng khô họng ráo, khó ngủ, bụng nổi cục, chất lưỡi đỏ. Dùng một trong các bài:

Bài 1: ngân hoa 12g, liên kiều 12g, cát căn 16g, sinh địa 16g, cỏ mực 16g, chỉ xác 12g, trần bì 12g, đại hoàng 6g, bạch thược 12g, sa sâm 16g, hồng hoa 8g, mạch môn 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: sinh địa 16g, chỉ xác 12g, đào nhân 12g, hồng hoa 10g, tri mẫu 10g, hoàng bá 10g, thiên môn 12g, mạch môn 12g, trần bì 12g, bạch thược 12g, liên kiều 12g, cát căn 16g, đại táo 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: trần bì 12g, chỉ xác 12g, phòng sâm 16g, đương quy 16g, thiên môn 16g, mạch môn 16g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, rau má 20g, cỏ mực 20g, cát căn 16g, đại táo 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Lưu ý: Để phòng bệnh táo bón, nên ăn nhiều rau, hoa quả chín, kiêng ăn các chất cay nóng, khô cứng, uống đủ nước (1,5 - 2 lít nước/ngày), vận động tập luyện vừa sức, tránh ngồi lâu.

TẮC KÈ-LOẠI THUỐC QUÝ BỔ BỆNH

Tắc kè là loài bò sát sống ở các hốc cây, hang đá có ở khắp các tỉnh miền núi nước ta. Mùa săn bắt thường từ tháng 5 đến tháng 10, lúc này tắc kè thường kêu nên dễ phát hiện.

Tắc kè có chứa chất béo...
Tắc kè tên khoa học là Gekko gekko L. Bộ phận dùng cả con đã chế biến bằng cách nhúng nước sôi hoặc dùng rượu làm sạch lông, vảy, loại bỏ phủ tạng, đầu (chặt từ sau hai u mắt) và bàn chân. Có thể dùng tươi hay tẩm rượu nướng vàng để dùng.

Trong tắc kè có chứa chất béo, các acid amin tối cần thiết cho cơ thể và tập trung nhiều nhất ở đuôi nên khi chế biến phải bảo tồn đuôi mới tốt.

Theo Đông y, tắc kè vị mặn, tính ấm; quy vào hai kinh phế, thận. Tác dụng bổ phế khí, ích tinh huyết, bổ thận dương. Liều dùng 3-5g bột.

Bài thuốc có tắc kè

Bài 1: Chữa tà khí ở vùng phế, trong ngực tích huyết gây đau, mất tiếng, ho lâu ngày mất tiếng: dùng cáp giới 1 đôi, sinh địa hoàng 80g, a giao 40g, kha tử 60g, mạch môn đông 80g, tế tân 30g, cam thảo 40g, hoàn viên bằng quả táo mỗi lần uống 1 viên, ngâm cho tan ra trước bữa ăn.

Bài 2: Trường hợp suyễn cấp ở người cao tuổi thể trạng hư yếu thường hình thành chứng trên thực dưới hư, suyễn gấp đoản hơi, so vai để thở, đàm khò khè, lưng lạnh sợ rét nặng hoặc sau khi đàm suyễn đã dịu cần phải ôn thận, nạp khí, hóa đàm, lợi phế, bình suyễn, chỉ khái dùng bài Cáp giới tứ tử phương: cáp giới 1 đôi, câu kỳ tử 12g, sa uyển tử 12g, tiền hồ 9g, trầm hương 2g, nữ trinh tử 12g, thỏ ty tử 12g, hạnh nhân 12g, tử uyển 9g. Tán bột hòa nước ấm uống mỗi lần 8g ngày 2-3 lần.

Bài 3: Nếu kiêm chứng chân tay lạnh, thể trạng hàn quá nặng thì dùng Hạ thị suyễn chứng phương để ôn thận, nạp khí, hóa đàm, bình suyễn: cáp giới 1 đôi, trầm hương 6g, nhân sâm 15g, cam thảo 6g, trần bì 6g, phục linh 10g, tang bạch bì 10g. Tán thành bột hòa nước uống, mỗi lần 8g.

Bài 4: Người cao tuổi mắc chứng suyễn khái nếu kiêm chứng lưỡi tối tía, môi tái thuộc dương hư huyết trệ, bệnh câu kết dùng bài Trần thị phù chính cố bản phương để phù chính, khử ứ, loại trừ gốc rễ của bệnh: nhân sâm, tam thất, xuyên bối, cáp giới, đông trùng hạ thảo, lượng bằng nhau. Tán bột ngày uống 2- 3 lần, mỗi lần 2g.

Bài 5: Dùng rượu cáp giới nhân sâm trong bữa cơm có tác dụng trợ dương, ích khí, hành ứ, thông mạch, bồi bổ cơ thể: cáp giới 1 đôi, nhân sâm 60g, rượu trắng 500ml, ngâm 30 ngày trở lên, mỗi lần uống 10-15ml, ngày 2 lần.

Bài 6: Chữa chứng khái suyễn lâu ngày, đờm đặc vàng, ho ra mủ lẫn máu ngực bồn chồn, nóng, người gầy yếu, mạch phù hư hoặc lâu ngày thành phế nuy, phải bổ khí thanh phế, chỉ khái, bình suyễn dùng bài Nhân sâm cáp giới tán: cáp giới 1 đôi, hạnh nhân 5 lạng, cam thảo 5 lạng, nhân sâm 2 lạng, phục linh, bối mẫu, tang bì, tri mẫu đều 2 lạng, sao giòn, tán mịn, ngày 3 lần, mỗi lần 15g với nước chín.

Bài 7: Trường hợp suy nhược cơ thể, sinh lý yếu, liệt dương, di tinh, tiểu tiện nhiều lần, ngũ canh tả do thận dương hư dùng: cáp giới 1 đôi, nhân sâm, ngũ vị tử 60g, hồ đào nhục 80g hoặc ba kích 60g, phục linh 40g, bạch truật 60g làm bột uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 15g.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

TRÀ DƯỢC XUÂN

Những ngày đầu xuân cũng là dịp diễn ra lễ hội ẩm thực đầy tính truyền thống và là dịp vui vẻ, quây quần cùng gia đình bạn bè sau cả năm dài bận rộn. Nhưng cũng chính trong những ngày này, chúng ta thường gặp những “trục trặc” về sức khỏe. Các ca đột quỵ, huyết áp, tim mạch, tiêu hóa, hô hấp và các bệnh mạn tính gia tăng. Làm thế nào có sức khỏe tốt để hưởng một mùa xuân mới trọn vẹn, bên cạnh việc giữ nếp sinh hoạt, ăn uống điều độ, bạn có thể tham khảo một số loại trà dược.

Trà dược xuân
Trà dược dành cho người mắc bệnh đường tiêu hóa

Trà sinh khương đại táo
: gừng tươi 20g, đại táo 10 quả, đường đỏ hoặc đường phèn lượng vừa đủ. Gừng tươi rửa sạch, thái vụn; đại táo bỏ hạt, thái vụn. Tất cả đem hãm nêm đường theo khẩu vị uống hằng ngày. Bài thuốc có tác dụng: tán phong hàn, ấm tỳ vị, ích khí bổ hư, đặc biệt tốt với những người tỳ vị hư yếu, dễ bị cảm lạnh, đau bụng, rối loạn tiêu hoá, lạnh tứ chi, huyết áp thấp, thận dương hư, dễ mắc các chứng bệnh đường hô hấp... Những người tăng huyết áp không nên dùng.

Tiểu hồi hương trà: tiểu hồi hương 10 -15g, đường ăn một lượng vừa phải. Tiểu hồi hương tán vỡ hãm với nước sôi nêm đường đủ dùng uống hằng ngày. Bài thuốc có tác dụng ôn trung tán hàn, hành khí chỉ thống, giảm đau, dùng cho người mắc chứng tỳ vị hư yếu, thường xuyên đau bụng đi ngoài, lạnh bụng, dễ mắc cảm cúm...

Trà xanh, sinh khương: trà xanh 30 - 50g, gừng tươi 5 -10g (thái lát). Tất cả rửa sạch, đun sôi nước sau đó cho trà và sinh khương vào đun tiếp 3-5 phút đem dùng. Bài này dùng cho những người ăn uống khó tiêu ậm ạch khó chịu, tỳ vị hư yếu... Người tăng huyết áp nếu sử dụng trà này nên bỏ gừng.

Trà dược cho người mắc bệnh đường hô hấp:

Bách táo, ngư tinh, thảo trà: bách hợp 5-10g, đại táo 3 -5 quả, ngư tinh thảo khô 5 - 10g. Tất cả đem hãm 15 - 20 phút. Trà này có tác dụng nhuận phế, bổ hư, giảm ho tiêu đờm. Thích dụng cho những người viêm phổi phế quản, hen phế quản, viêm họng...

Câu kỷ, ngọc diệp trà: kỷ tử 5g, đại táo 3 quả bỏ hạt, râu ngô 5 -10g, lá dâu 5g. Tất cả sơ chế thái vụn đem hãm nước uống hằng ngày. Dược trà có tác dụng: mát can, nhuận phế, bổ thận khí, trừ phong, tiêu khát, lợi niệu. Thích dụng cho những người viêm gan, viêm đường tiết niệu, viêm phổi - phế quản, thận hư gây đau lưng mỏi gối…

Trà dược dành cho người bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch

Trà đan sâm khiếm thực
: đan sâm 10 - 20g, tam thất 5 - 10g, khiếm thực 3 -5g, cỏ ngọt 3 - 5g. Tất cả đem hãm 15 - 20 phút đem dùng hằng ngày nhất là những ngày giá rét. Bài thuốc có tác dụng điều khí, thông huyết tiêu ứ, thúc đẩy lưu thông huyết mạch, an thần, dùng cho các trường hợp xơ vữa động mạch, mỡ máu, suy động tĩnh mạch, hồi hộp đánh trống ngực, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim...

Thiên ma, cúc hoa trà: thiên ma 10g, cúc hoa 10g, hòe hoa 3 - 5g. Tất cả đem hãm dùng hằng ngày. Bài thuốc có tác dụng ích khí, bổ âm, an thần, hạ áp, thanh can sáng mắt, mạnh gân cốt. Bài này dùng cho những người âm hư hỏa vượng tăng huyết áp, hoa mắt chóng mặt, xơ vữa động mạch, thị lực giảm do biến chứng tăng huyết áp và tiểu đường...

Hà thủ ô, đan sâm cúc trà: hà thủ ô 20g, đan sâm 25g, cúc hoa 15g, đường phèn hay mật ong đủ dùng. Tất cả đem hãm 20 - 30 phút uống hằng ngày thay trà. Bài thuốc có tác dụng bổ can thận, hoạt huyết hoá ứ, an thần, hạ áp. Dùng cho những người thiểu năng mạch vành, thiếu máu cơ tim, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp…

Trà dược dành cho người huyết áp thấp

Tô diệp, khương trà
: tô diệp (lá tía tô) 5 -10g, gừng tươi 3g, đường đỏ đủ dùng. Tất cả thái vụn đem hãm với nước sôi nêm đường vừa đủ, dùng làm đồ uống trong những ngày giá rét. Bài thuốc có tác dụng ôn ấm trung tiêu, giải biểu tán hàn, điều hòa khí vị, dùng cho những người dễ cảm lạnh, đau đầu hoa mắt chóng mặt do huyết áp thấp, sợ lạnh, lạnh bụng, bụng trướng đau do lạnh, đại tiện lỏng nát...

Trà ngưu, nhị quế: ngưu tất 20 - 30g, nhục quế 5 - 10g, quế chi 5 - 10g. Tất cả cho vào bình hãm 20 - 30 phút dùng trong những ngày giá rét. Dùng cho những người gân cốt hư yếu, đau lưng mỏi gối, viêm đa khớp dạng thấp, cước khí, huyết áp thấp.

CỦ KIỆU-VỊ THUỐC HAY

Kiệu muối chua là một trong các loại dưa muối ăn thường ngày của các nước phương Đông như Việt Nam. Với kiệu, ngoài món muối chua còn có thể cho nhiều món ăn khác phối hợp với các thực vật hoặc động vật để nấu hoặc làm gỏi. Những món ăn có kiệu này đều có thể góp phần giúp cơ thể phòng chữa nhiều bệnh của dân ta, nhất là ở nơi rừng núi, rét mướt, ẩm thấp, gió mưa.

Củ kiệu
Kiệu có tên giới bạch, tiểu toán (tỏi nhỏ) tiểu căn toán, dã toán, đại đầu thái tử, hoả thông... Theo Đông y, kiệu có vị cay - đắng, tính ôn, thông hoạt lợi, thông dương, tán kết, hành khí, giảm đau, an thai, bổ trung, lợi thủy, sinh cơ.

Sau đây là một số cách dùng củ kiệu phòng chữa bệnh.

Thông dương, tán huyết, tức thở, khí trễ đờm tắc có khi đau ra sau lưng: Kiệu 10g, qua ủy 15g, rượu 500ml, hai thứ làm sạch, qua ủy hấp mềm thái lát, kiệu luộc chín. Cho hai thứ vào túi lụa ngâm vào rượu. Sau 1 tuần uống được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml có hoà thêm nước đun sôi để nguội.

Tức ngực khó thở: Lấy 15g củ kiệu giã nát, thêm gia vị và nước trộn với 1 bát gạo kê thêm ít mì chính, dầu vừng rồi ăn.

Sản phụ bị kiết lỵ: Củ kiệu xào với bầu dục lợn.

Sưng đau cơ khớp: Củ kiệu giã nát hòa với giấm, đảo đều hâm nóng đắp lên chỗ sưng đau.

Xích bạch lỵ: Củ kiệu 1 nắm nấu cháo.

Bổ khí, điều hòa nội tạng: Hàng ngày ăn 15-20g kiệu muối với cơm.

Sang lở, chứng gặp nước thì sưng đỏ ngứa tay chân: Kiệu giã nát, xào nóng đắp vào.

Bỏng lửa, nước sôi: Kiệu lột bỏ vỏ ngoài, giã nát, trộn mật phết vào chỗ bị bỏng.

Bỗng nhiên ngã hôn mê hoặc ngủ trúng gió bất tỉnh: Kiệu giã vắt nước cốt nhỏ vào mũi (cần kết hợp các biện pháp khác cho kịp thời).

Lưu ý: Người khí hư không dùng kiệu. Người khỏe mạnh cũng không nên ăn nhiều một lúc gây hư tổn khí huyết, nóng gan, đau mắt.

TÔM CÀNG-MÓN ĂN NGON,VỊ THUỐC QUÝ

Tôm càng còn gọi là tôm đồng, tôm nước ngọt, tên khoa học là Macrobrachium nipponense De Haan. Tôm càng được các bà nội trợ rất ưa chuộng bởi có giá trị dinh dưỡng cao, thịt tôm chắc, dai, ngọt. Tôm càng được chế biến thành nhiều món ăn rất phong phú và đa dạng như: tôm nướng, tôm rang me, lẩu tôm, tôm tẩm bột rán, chạo tôm… Tôm đồng còn là vị thuốc quý trong Đông y.

Tôm có giá trị dinh dưỡng cao...
Tôm đồng được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là hà ngư hay hà mễ. Chủ yếu dùng tươi, có thể phơi khô, tán bột làm thuốc. Thịt tôm đồng tươi chứa protid, lipid, Ca, P, Fe, vitamin B1, B2, PP, cholesterol, melatonin và acid béo omega - 3. Vỏ tôm có các polysaccharide. Tôm đồng vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ dương khí, lợi sữa, giải độc, chống nôn.

Tôm đồng tươi được dùng phổ biến dưới dạng món ăn - vị thuốc rất phong phú như sau:

Bồi dưỡng cho trẻ cứng cáp, chóng biết đi, chống suy dinh dưỡng: tôm đồng tươi bỏ đầu, rửa sạch, rang nhỏ lửa cho khô giòn, giã nhỏ, rây bột mịn. Dùng bột tôm quấy với bột gạo cho trẻ ăn hằng ngày, mỗi lần 1 - 2 thìa cà phê. Có thể giã hay xay nhuyễn thịt tôm tươi nấu cháo cho trẻ ăn.

Chữa chứng cận thị, trẻ em đái dầm: rang tôm với dầu vừng ăn hằng ngày.

Làm thuốc bổ: tôm đồng 12 con bóc vỏ, băm nhỏ, cùi dừa 15g nạo sợi, lòng đỏ trứng 3 quả. Tất cả trộn đều, đổ dầu lạc vào chảo rán mỏng thành bánh, ăn trong ngày.

Phụ nữ sau đẻ thiếu sữa:

- Tôm đồng tươi (nửa bát) bóc bỏ vỏ, giã nát, tẩm rượu nếp và muối, hấp chín, ăn trong ngày.

- Tôm đồng tươi (100g) xào với 20ml rượu trắng ăn hằng ngày hoặc rang tôm rồi đảo với rượu ăn trong ngày.

Chữa báng bụng: tôm tươi nấu canh ăn hằng ngày dần dần sẽ khỏi đau.

Kích thích sinh dục, chữa liệt dương, mộng tinh:

- Tôm đồng 20g, ngài tằm đực 7 con (sao giòn), giã nát rồi trộn với trứng gà 2 quả rán hoặc hấp chín ăn.

- Tôm đồng tươi 100g xào với lá hẹ 25g hoặc quả ớt ngọt 50g thêm chút rượu 40 độ.

- Trứng tôm 20g nấu canh với trứng chim sẻ (2 - 3 quả), ăn trong ngày.

Giảm đau lưng: tôm đồng tươi 100g (lột vỏ, rút chỉ lưng) ngâm vào rượu nếp trong 10 - 15 phút, vớt ra, xào chín ăn hằng ngày.

Ngoài ra, từ các polysaccharid trong vỏ tôm đồng chiết được chất chitosan để pha chế thuốc chữa bỏng, có khả năng kích thích các tế bào biểu mô làm cho vết thương mau lành. Chitosan còn có tác dụng tạo nên tác động kích thích miễn dịch và chống khối u, cải thiện tiến trình thay đổi tế bào và gia tăng các tế bào của vỏ xương.

TRỨNG GÀ TRỊ BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP

Do chứa nhiều acid amin và canxi, photpho, sắt, sinh tố… nên trứng gà không những là món ăn bổ dưỡng phù hợp với mọi lứa tuổi, là loại “mỹ phẩm” thiên nhiên cho làn da mà còn có tác dụng chữa nhiều bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu… Sau đây xin giới thiệu một số món ăn có trứng gà được dùng phổ biến trong nhân dân, tốt cho người bệnh đường hô hấp.

Trứng gà
- Sốt ho lâu ngày: trứng gà 2 quả, mật ong 60g. Mật ong cho thêm ít nước đun sôi, đổ trứng gà vào. Ăn trứng uống canh ngày 1 lần.

Hoặc: trứng gà 2 quả, đường phèn 50g. Đường phèn cho 1 bát nước, nấu tan, để nguội. Đập trứng gà vào, đánh tan, cho vài giọt nước gừng tươi vào để ăn.

Hoặc: trứng gà 2 quả, giấm chua 50g. Đập trứng vào bát nước đổ giấm vào, đánh tan rồi nấu chín ăn.

- Cảm cúm: trứng gà 2 quả, đường phèn vừa phải. Đường phèn tán nhỏ, cho vào bát đánh đều với trứng gà, pha nước sôi vào, đậy nắp 10 phút. Uống buổi tối trước khi đi ngủ.

- Bệnh viêm khí quản: trứng gà 3 quả, giấm 60g. Trứng gà rán dầu vừng cho chín, cho giấm vào nấu, ăn 2 lần vào buổi sáng và tối.

- Hen, thở khò khè: trứng gà 2 quả, rau hẹ 100g. Rau hẹ rửa sạch, cắt đoạn. Trứng gà đập vào bát, đánh đều, cho mỡ vào chảo đun sôi, cho trứng và rau vào xào chín, ăn.

- Ho khạc ra máu: trứng gà 1 quả, mật ong 15g, bạch cập 3g. Mỗi sáng đập trứng gà vào nước cơm sôi rồi cho bạch cập nghiền nhỏ và mật ong vào ăn cùng. Chữa lao phổi ho ra máu.

- Lao phổi: trứng gà 1 quả, sữa đậu nành 1 bát, đường trắng một ít. Nấu sôi sữa đậu nành, trứng gà đập ra bát đánh đều đổ vào sữa đậu nành, cho đường uống. Hoặc: trứng gà 2 quả, sa sâm 30g. Cho hai thứ vào luộc, trứng gà chín, bóc vỏ rồi lại luộc tiếp, sau đó cho đường vào, ăn trứng, uống nước.

- Viêm phổi: trứng gà 2 quả, rau diếp cá 60g. Rửa sạch rau diếp cá, ngâm 1 tiếng cho bớt mùi tanh rồi bỏ vào nước sôi luộc chín rau, bỏ bã, đập trứng vào rau diếp cá. Ăn liên tục 15 ngày.

- Bệnh viêm xoang: trứng gà 2-3 quả, rễ đại kế 90g. Cho hai thứ vào nấu rồi ăn trứng, uống nước. Kiêng chất cay nóng. Hoặc: trứng gà 2 quả, hoa mộc lan 15g. Trứng gà luộc chín, bóc vỏ. Hoa mộc lan sắc riêng, bỏ bã, lấy nước, cho trứng gà vào nấu tiếp rồi ăn trứng, uống nước.

- Viêm mũi mạn tính: trứng gà 10 quả, hoa mộc lan 30g. Cả hai thứ cho vào nồi nước luộc kĩ rồi ăn trứng, uống nước.

- Ho trong thời kỳ thai nghén: trứng gà 1 quả, bách hợp 7 cái. Bách hợp cho vào nước ngâm 1 đêm, sau cho 2 bát nước sắc còn 1 bát, bỏ bã, lấy lòng đỏ trứng cho vào nấu chín ăn. Mỗi lần ăn nửa bát, ngày ăn 2 lần.

TRÀ TIÊU THỰC

Ngày Tết, không ít người phải phiền lòng vì tình trạng rối loạn tiêu hóa. Phần vì tỳ vị của họ vốn đã có bệnh khiến cho chức năng co bóp, hấp thu và bài tiết các men tiêu hóa sút kém; phần vì ăn uống không điều độ, thức ăn quá nhiều chủng loại, quá nhiều đồ bổ béo, sống lạnh hoặc khó tiêu. Ðó là chưa kể đến điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đôi khi chưa đảm bảo, thời tiết không thuận lợi, nề nếp sinh hoạt nghỉ ngơi bị đảo lộn. Tất cả gây nên một tình trạng rất khó chịu với các biểu hiện như bụng đầy trướng, ậm ạch khó tiêu, hay ợ hơi hoặc ợ chua, ăn uống không ngon miệng, tinh thần mỏi mệt, hơi thở hôi, rêu lưỡi dày, đại tiện không bình thường…

Ảnh minh họa
Trong y học cổ truyền, rối loạn tiêu hóa thuộc phạm vi các chứng “thương thực”, “trướng mãn”, “ách nghịch”, “vị hư”, “can vị bất hòa”… với các biện pháp chẩn trị hết sức phong phú. Trong đó, có một biện pháp xử lý rất đơn giản, tiện lợi, rẻ tiền mà không kém phần hiệu quả là sử dụng các loại trà tiêu thực. Bài viết này xin được giới thiệu một số công thức và cách dùng trà tiêu thực điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

Phương 1: Chỉ thực sao 30g, bạch truật sao 60g, thần khúc sao 50g. Tất cả tán vụn, mỗi lần dùng 20g cho vào túi vải, đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày, mỗi ngày dùng 1 - 2 lần. Công dụng: kiện tỳ tiêu thực, hành khí đạo trệ, dùng rất tốt cho những người vốn bị viêm dạ dày, viêm đại tràng mạn tính nay thức ăn đình trệ, chậm tiêu, trướng bụng đầy hơi, buồn nôn hoặc nôn, đại tiện lỏng loãng… Trong phương, bạch truật là chủ vị, có công năng kiện tỳ ích vị; chỉ thực và thần khúc tiêu trệ, kích thích tiêu hóa, làm hết đầy trướng. Cả ba vị phối hợp với nhau tạo nên công năng tiêu thực khá tốt. Tuy nhiên, những người bị viêm loét dạ dày tá tràng thể đa toan thì không nên dùng bài này.

Phương 2: Mạch nha sao 10g, sơn tra sao 6g, đường đỏ vừa đủ. Các vị đem tán vụn rồi cho vào bình kín, hãm với nước sôi trong 20 phút, uống thay trà trong ngày, mỗi ngày dùng từ 1 - 2 lần. Công dụng: tiêu tích hóa trệ, dùng rất tốt cho những người khỏe mạnh nhưng do ăn uống vô độ, thức ăn đình trệ mà gây ra đầy trướng, ợ hôi nuốt chua, buồn nôn và nôn ra thức ăn có mùi chua hăng, rêu lưỡi dày bẩn, đại tiện không ổn định…

Trong phương, mạch nha và sơn tra đều có công năng tiêu thực, mạch nha tiêu chất bột, sơn tra tiêu thịt và mỡ. Sách Bản thảo cương mục viết: “Sơn tra hóa ẩm thực, tiêu nhục tích”. Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong mạch nha có chứa một số men tiêu hóa và sinh tố nhóm B, trong sơn tra có chứa lipase có tác dụng kích thích dịch vị tăng tiết, điều chỉnh sức co bóp của cơ trơn, góp phần thúc đẩy quá trình tiêu hóa thức ăn.

Phương 3: Trà diệp 10g, gạo tẻ 30g sao đen, gừng tươi 2 lát. Tất cả các vị tán vụn, đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: kiện tỳ tiêu thực, dùng thích hợp cho những người bị thương thực biểu hiện bằng các triệu chứng đầy bụng, chậm tiêu, ợ chua, buồn nôn, đại tiện lỏng loãng… Theo quan niệm của y học cổ truyền trà diệp có công dụng hạ khí tiêu thực. Sách Bản thảo kinh sơ viết: “Trà diệp hạ khí tiêu thực giả, khổ năng hạ tả, nhi kiêm điều trừ tràng vị, tắc thực tích tự tiêu hĩ” (lá trà vị đắng có thể cầm đi lỏng, tiêu thức ăn, điều hòa chức năng dạ dày và ruột khiến cho thực tích tự tiêu).

Nghiên cứu hiện đại cho thấy, chất cafein trong trà diệp có tác dụng kích thích dịch vị tăng tiết, làm tăng cảm giác thèm ăn, thúc đẩy quá trình tiêu hóa của dạ dày. Mặt khác, với hàm lượng tanin khác cao, trà diệp còn làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng rất tốt. Trong phương, gừng tươi cũng có tác dụng kích thích tiêu hóa, làm ấm bụng và kháng khuẩn.

Phương 4: Chỉ thực sao 10g, bạch truật sao 20g, sinh địa 20g. Tất cả các vị đem thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: kiện tỳ tiêu tích, dưỡng âm thông tiện, dùng cho những người bị rối loạn tiêu hóa thuộc thể Khí âm lưỡng hư biểu hiện bằng các triệu chứng bụng đầy, chậm tiêu, ăn không ngon miệng, mệt mỏi nhiều, miệng khô, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ, chát lưỡi đỏ…

Trong phương, sinh đại có công năng bồi bổ phần âm, làm cho đỡ táo kết; bạch truật vừa kiện tỳ trừ thấp lại vừa sinh tân dịch khiến cho quá trình tiêu hóa thức ăn được thuận lợi; chỉ thực có tác dụng tăng sức co bóp cơ trơn, kích thích bài tiết dịch tiêu hóa. Ba vị phối hợp chặt chẽ với nhau tạo nên công dụng tiêu thực thông tiện độc đáo của bài thuốc.

Vỏ quýt

Phương 5: Đại táo 10g, vỏ quýt hoặc vỏ cam 10g, gừng khô 15g. Các vị thuốc thái vụn, đem hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 - 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: ôn bổ tỳ vị, hành khí tiêu thực, dùng thích hợp cho người bị rối loạn tiêu hóa do ăn nhiều đồ ăn sống lạnh và khó tiêu hoặc bị đầy bụng trướng hơi do cảm lạnh. Trong phương, ngoài gừng khô có tác dụng ôn ấm và trợ giúp tiêu hóa, vỏ quýt vốn chứa nhiều tinh dầu có công năng kích thích bài tiết dịch vị và dịch ruột, điều hòa sức co bóp cơ trơn ở thành ống tiêu hóa và bài trừ khí trệ trong lòng ruột. Phương trà này có thể dùng lâu dài cho những người bị viêm dạ dày, viêm ruột mạn tính thuộc thể hư hàn, đại tiện thường xuyên lỏng loãng.

Nhìn chung, các phương trà tiêu thực trên đây đều rất đơn giản, dễ kiếm, dễ chế và cũng dễ sử dụng. Nói là trà nhưng thực chất là lấy thuốc thay trà, mượn cách pha và dùng trà để chiết xuất và đưa chất thuốc vào trong cơ thể nhằm mục đích trợ giúp quá trình tiêu hóa. Các vị thuốc có thể tự kiếm hoặc mua dễ dàng tại các cơ sở đông dược. Vấn đề còn lại là ở chỗ các phương trà dược này thực sự có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt được ở mức độ nào. Câu trả lời chính xác xin để dành cho những người không may bị rối loạn tiêu hóa trong những ngày Tết nếu như họ tin và mạnh dạn sử dụng các phương trà giản dị và độc đáo này.

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

HOA HƯỚNG DƯƠNG-MÓN ĂN-BÀI THUỐC VÀO DỊP TẾT

Những ngày chuẩn bị Tết cổ truyền, ngoài mứt, trái cây, người ta còn có thú chưng hoa: Mai, Anh đào... và cả Hướng dương. Ngoài việc chưng cho đẹp những Tết, toàn cây Hướng dương còn được tận dụng làm thuốc khá tốt.
Hoa hướng dương
Lá hướng dương
Lá hướng dương thường dùng để trị cao huyết áp.

- Trị sốt và ức chế tụ khuẩn vàng: dùng 20 - 40g lá hướng dương, sắc uống.

- Trị cao huyết áp: dùng 30g lá hướng dương khô hoặc 60g lá hướng dương tươi, 30g thổ ngưu tất sắc nước uống thay trà.

Lõi thân và cành cây hướng dương
Lõi cành cây hướng dương có tác dụng trị chứng tiểu ra máu, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện không thông...

Trị ho gà: dùng 15 - 30g lõi thân và cành cây hướng dương giã nát hãm nước sôi, thêm đường trắng uống trong ngày.

Trị viêm phế quản mạn tính: lõi cành hướng dương lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát, cho thêm chút nước lọc rồi ép lấy nước uống (có thể pha thêm một ít đường) hoặc sắc uống.

Trị viêm phế quản mạn tính: đài hoa hướng dương 1 - 2 cái, sắc uống với một chút đường phèn.

Trị hen suyễn: đài hoa hướng dương tươi 30 - 60g, sắc kỹ rồi bỏ bã, cho thêm chút đường phèn, chia uống 2 lần trong ngày.

Trị hen suyễn: cành hướng dương lượng vừa đủ, sắc uống khi đói.

Trị hen suyễn: cành hướng dương 15g, cam thảo 6g, sắc uống.

Trị sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: dùng khoảng 1m lõi thân cây hướng dương cắt khúc, sắc nước uống ngày 1 thang, dùng liên tục trong 1 tuần.

Trị sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: dùng khoảng 60cm lõi thân và cành hướng dương, 60g rễ rau cần cạn, sắc uống ngày 1 thang, liên tục trong nhiều ngày.

Trị viêm đường tiết niệu và sỏi tiết niệu: lõi cành hướng dương 15g sắc uống.

Trị táo bón: lấy lõi cành hoa hướng dương sấy khô, đốt thành than rồi tán bột, mỗi ngày uống chừng 6g với nước ấm.

Hoa hướng dương
Theo Đông y, hoa hướng dương vị ngọt, tính ấm, không độc, có công dụng trừ phong, minh mục (làm sáng mắt). Thường dùng để trị các chứng bệnh như đầu choáng mắt hoa, phù mặt, nặng mặt, đau răng...

Trị đầu đau: đài hoa hướng dương 30 - 60g sắc uống.

Trị đau đầu, ù tai, đau răng, đau gan, đau bụng, đau khớp, viêm vú và tăng huyết áp: dùng 30 - 90g cụm hoa hướng dương sắc uống.

Trị hoa mắt chóng mặt: đài hoa hướng dương 30 - 60g, sắc uống hoặc lấy dịch chiết luộc với 2 quả trứng gà ăn. Cũng dùng hoa hướng dương tươi 60g hầm với thịt gà ăn.

Trị hen suyễn: cánh hoa hướng dương phơi khô trong bóng râm, thái nhỏ thành sợi rồi quấn thành điếu hút như hút thuốc lá.

Trị hen suyễn: hoa hướng dương 12g rửa sạch, giã nát, hòa thêm chút đường phèn rồi uống.

Trị viêm loét âm đạo: dùng 60g hoa hướng dương khô sắc lấy nước ngâm, rửa âm đạo hàng ngày.

Trị bỏng (nước sôi, bỏng lửa): hoa và lá hướng dương sấy khô, tán bột mịn, trộn với dầu thực vật bôi lên vùng da bị bỏng lửa rất tốt.

Trị ban sởi mà sởi mọc chậm: dùng lượng hoa hướng dương vừa đủ sắc lấy nước, để nguội bớt rồi lấy khăn tẩm, chườm suốt dọc cột sống và vùng bụng ngực cho đến khi ban sởi nổi đều thì thôi.

Trị hành kinh đau bụng: dùng 40 - 50g hoa hướng dương nấu nước, gia thêm ít đường, uống trong ngày.

Trị hành kinh đau bụng: hạt hướng dương 20 - 30g, sơn tra 30g đem sao đen tán nhuyễn, rồi hãm với nước sôi, cho thêm vào ít đường để dùng trong ngày. Nên dùng trước chu kỳ kinh vài ngày (độ 2 - 3 ngày), dùng liên tiếp 3 - 4 chu kỳ, nhiều người cho kết quả tốt.

Trị bế kinh, tắt kinh: lấy 100 - 200g móng heo đem sao cho phồng lên, rồi nấu chung với 20 - 30g cành hướng dương, để dùng trong ngày.

Trị tai ù do thận hư: đài hoa hướng dương 15g, hà thủ ô 6g, thục địa 9g, sắc uống.

Trị viêm loét dạ dày tá tràng: đài hoa hướng dương 60g, sắc uống hoặc đem hầm với dạ dày heo 1 cái làm canh ăn.

Trị xuất huyết dạ dày: đài hoa hướng dương 1 cái, sắc uống.

Trị viêm đường tiết niệu và sỏi tiết niệu: đài hoa hướng dương 1 cái sắc uống.

Hạt hướng dương
Một hoa hướng dương có thể cho đến hơn 1.000 hạt. Ngày nay, hướng dương được trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia và dầu hướng dương (làm từ hạt) đã trở thành một trong những loại dầu được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng của hạt hướng dương.

Theo Đông y, hạt hướng dương có vị ngọt, tính bình, không độc, có tác dụng an thần, chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được.

Trong Đông y, hạt hướng dương được sử dụng như một liệu pháp thảo dược điều trị cho chứng rối loạn gan và loét dạ dày. Hạt hướng dương cũng phòng ngừa viêm khớp, bệnh tim và nhiều bệnh khác.

Trong hạt hướng dương, nhiều nhất là vitamin E, không chỉ giúp cho việc làm đẹp mà còn ngăn ngừa tiến trình lão hóa. Các thành phần trong loại hạt này có thể thúc đẩy quá trình tái sinh tế bào, bước đầu thu được hiệu quả trong trị liệu thần kinh suy nhược, mất ngủ...

Hạt hướng dương có giá trị dinh dưỡng khá cao, chứa dầu béo, protein, caroten, canxi, sắt, phospho và nhiều loại vitamin. Việc mỗi ngày ăn một nắm hạt hướng dương sẽ giúp tăng cường trí nhớ, ngăn ngừa lão hóa, giúp bạn kéo dài sức khỏe và tuổi thanh xuân.

Hạt hướng dương góp phần phòng ngừa các bệnh mỡ trong máu cao nhờ tác dụng làm giảm cholesterol.

Trên động vật thí nghiệm, nó giúp tăng cường miễn dịch để chống trực khuẩn lao. Hạt hướng dương có thể sử dụng để trị một số bệnh như giun kim (ăn hạt sống), kiết lỵ ra máu, đau đầu do suy nhược.

Lượng magie trong hạt hướng dương cũng khá cao. Ngoài việc giúp giảm huyết áp, magie còn có thể làm giảm mức độ tiến triển nặng của bệnh suyễn, phòng ngừa chứng đau nửa đầu, giảm nguy cơ đau tim, đột quỵ.

Selen trong hạt hướng dương là khoáng chất có thể giúp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư nhờ vào việc ngăn chặn phản ứng hóa học tạo ra các gốc tự do có thể dẫn đến ung thư, ức chế sự phát triển của khối u, đồng thời làm chậm tiến triển ung thư ở những người đang mắc bệnh.

Tăng sức khỏe tim mạch: ăn hạt hướng dương cũng có lợi cho chức năng hoạt động bình thường của hệ thống tim mạch. Chất beatine có trong hạt hướng dương giúp hạn chế sự sản xuất của homocysteine - một amino acid sulfuric chịu trách nhiệm phát triển các vấn đề như huyết khối tĩnh mạch hoặc động mạch, bệnh mạch vành... Nó cũng chứa arginine - một acid amin đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố các mạch máu và động mạch của cơ thể.

Trị đau đầu, váng đầu: lấy hạt hướng dương đã bỏ vỏ chừng 30 - 40g, gà mái 1 con làm sạch, bỏ ruột hầm cùng hạt hướng dương. Ăn thịt gà và hạt hướng dương, uống nước.

Trị kiết lỵ ra máu: lấy hạt hướng dương đã bỏ vỏ 30g, đổ nước đun sôi hãm trong một giờ sau cho đường phèn vào uống.

Trị giun kim: hạt hướng dương sống, mỗi ngày cần ăn sống bỏ vỏ một nắm (không ăn hạt hướng dương đã chín vì sẽ kém hiệu quả).

Vỏ hạt hướng dương
Trị cao huyết áp: hạt hướng dương bỏ vỏ sao qua, tán bột, mỗi ngày uống 6g trước khi đi ngủ.

Trị tai ù do thận hư: vỏ hạt hướng dương 9 - 15g sắc uống.

Rễ cây hướng dương
Rễ hướng dương có công dụng chữa các chứng đau ngực sườn, đau do viêm loét dạ dày, tá tràng, đại tiểu tiện không thông thoáng, tổn thương do trật đả...

Trị huyết áp cao: rễ hướng dương 60g, thái vụn, sắc uống.

Trị viêm loét dạ dày tá tràng: rễ hướng dương sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g.

Hoặc dùng rễ hướng dương 15g, tiểu hồi hương 9g, sắc uống.

Trị đau tức vùng thượng vị, ăn không tiêu: dùng rễ cây hoa hướng dương, tiểu hồi hương, hạt mùi, mỗi vị 6 - 10g, sắc nước uống.

Trị táo bón: dùng rễ cây hoa hướng dưỡng giã nát, lọc lấy nước cốt, hòa với mật ong. Mỗi lần uống 15 - 30g, ngày uống 2 - 3 lần.

Trị tinh hoàn sưng đau: dùng 30g rễ cây hoa hướng dương sắc với đường đỏ uống.

Trị viêm đường tiết niệu và sỏi tiết niệu: rễ hướng dương tươi 30g sắc uống.

Trị phù thũng, tiểu tiện không thông: rễ hướng dương 15g, vỏ bí đao 30g, sắc uống hằng ngày.

Lưu ý: phụ nữ có thai không được dùng các vị thuốc lấy từ cây hoa hướng dương vì có thể gây sảy thai.



TÍA TÔ-DƯỢC THẢO CỦA BÀ BẦU

Tía tô là loại gia vị thơm ngon, không thể thiếu trong các món ngon như cháo, chuối đậu, bún ốc... và là vị thuốc giải biểu được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Bộ phận dùng làm thuốc là lá (tô diệp), cành (tô ngạnh), quả (tô tử).

Tía tô
Theo Đông y, tía tô mùi thơm, chứa tinh dầu, tác dụng phát hãn, trừ ôn dịch, lý khí tiêu đờm, dùng chữa ho hen, cảm cúm, đau đầu sổ mũi, viêm họng, chống dị ứng, trị nôn, đau trướng bụng, bí đại tiện. Đối với bà bầu, nó còn là vị thuốc an thai, dưỡng thai hiệu quả. Xin giới thiệu để chị em tham khảo.

Ốm nghén: Chị em thường nôn, chán ăn, người mệt mỏi, thèm ăn những thứ chua, chát…: tía tô 20g, ngải diệp 16g, bạch truật 16g, đương quy 16g, phòng sâm 12g, cẩu tích 12g, đỗ trọng 10g, sơn tra 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, liên kiều 12g, sinh khương 3 lát, đại táo 5 quả, cam thảo 12g, phục long can 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: an thai, bổ tỳ, hết nôn.

Thai phụ bị đau bụng, đau lưng, ra huyết: lá và cành tía tô 20g, bạch truật 16g, sa sâm 16g, ngải diệp 12g, a giao 6g, thục địa 16g, hoàng cầm 12g, gừng nướng cháy 6g, đỗ trọng 10g, đương quy 12g, bạch thược 12g, cam thảo 10g, phục long can 16g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 7 - 10 ngày liền. Công dụng: an thai, nhuận huyết, chỉ huyết.


Nhiệt thai: chị em bị nóng trong bụng, cồn cào, nước tiểu đỏ lượng ít, ăn uống kém, sưng đau lợi răng, táo bón, tiêu hóa không thông lợi: đương quy 16g, lá và cành tía tô 16g, bạch truật 12g, chi tử 12g, liên kiều 16g, hoàng cầm 10g, đỗ trọng 10g, ngân hoa 10g, rau má 20g, a giao 6g, thục địa 12g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, khởi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang. 7 - 8 ngày là một liệu trình.

Thai phụ bị phù nề, tiểu ít, tê bì hai chi dưới: tía tô 16g, bạch truật 16g, ngũ gia bì 16g, ngải diệp 12g, cao lương khương 10g, thăng ma 10g, sài hồ 12g, trần bì 12g, xa tiền 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 12g, hương nhu trắng 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: bổ trung, bổ tỳ, thuận khí, thông tiểu.

Thai phụ bị ho hen, nhiều đờm, khó thở: tía tô 16g, cát cánh 16g, kinh giới 12g, trần bì 10g, mơ muối 10g, rau tần dày lá 12g, cam thảo 12g, lá xương sông 12g, tang bạch bì 10g, bối mẫu 10g, bạch linh 10g, bạch quả 10g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: thanh phế, trừ phong, tiêu đờm, giảm ho.

9 DƯỢC LIỆU ĐÔNG Y CÓ LỢI CHO BÀ BẦU

Dưới đây là 9 loại thảo dược được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc Đông y có tác dụng làm giảm các triệu chứng ốm nghén và giúp an thai, giảm nguy cơ động thai, sảy thai.

Sa nhân
Điều kiện dinh dưỡng và sức khỏe khi mang thai là vấn đề quan tâm hàng đầu không chỉ của các thai phụ mà còn là của cả các thành viên còn lại trong gia đình. Hiện nay nhóm dược phẩm dành cho phụ nữ có thai khá phổ biển trên thị trường, tuy nhiên nhiều gia đình vẫn chuộng sử dụng các loại dược liệu Đông y. So với thuốc tân dược, Đông y thường ít ảnh hưởng tới sức khỏe của người mẹ và thai nhi. 9 loại thảo dược sau là những bài thuốc an thai tốt nhất dành cho các mẹ bầu.

1. Thục địa
Thục địa là phần rễ của cây Địa Hoàng, được chế biến có màu đen, mềm. Đây là dược liệu thường được dùng để bổ thận, dưỡng âm, bổ máu. Bản thân thục địa thường có mặt trong các bài thuốc chữa các vấn đề sinh lý của phụ nữ như kinh nguyệt không đều hoặc thể trạng yếu như sắc da tái nhợt, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, thiếu máu. Sử dụng thục địa hợp lý có thể giúp tăng cường sức khỏe và hệ miễn dịch của thai phụ, giúp hết cảm giác mệt mỏi, đau lưng khi mang thai.

2. Hoài sơn
Hoài sơn chính là tên gọi của Củ mài, thường được dùng trong các món ăn, bánh trái. Hoài sơn có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Thai phụ sử dụng hoài sơn có thể giúp bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, lỵ, tiêu khát, mỏi lưng, chóng mặt, hoa mắt, ra mồ hôi trộm. Các bà bầu có thể sử dụng trực tiếp củ mài bằng cách nấu với gạo nếp thành cháo củ mài, giúp trị tiêu chảy, khí huyết hư, chán ăn, khô miệng khát nước, táo bón. Củ mài cũng có thể được thái lát, phơi khô và tán thành bột để sử dụng kết hợp các loại dược liệu khác, sắc uống theo chỉ định của thầy thuốc.

3. Hương phụ
Hương phụ là phần thân rễ phơi hoặc sấy khô của cây Củ gấu, có vị cay hơi đắng, vị ngọt, tính bình. Thuốc có tác dụng ức chế tử cung, thường được dùng làm thuốc điều kinh, trị đau bụng kinh, rối loạn kinh nguyệt, băng huyết, rong huyết. Đối với phụ nữ mang thai, hương phụ đặc biệt có hiệu quả trong việc giảm đau, nhất là đau bụng nôn mửa hoặc đau bụng đi ngoài. Ngoài ra còn hỗ trợ làm giảm tình trạng tiêu hóa kém, ăn uống không ngon miệng. Hương phụ có thể được dùng riêng hoặc kết hợp với Ích mẫu.

4. Tục đoạn
Tục đoạn có tên gọi khác là sâm nam, là phần rễ phơi hay sấy khô của cây Tục đoạn, có tác dụng chữa đau lưng, mỏi gối và đặc biệt là vị thuốc hành huyết, chỉ huyết, giảm đau an thai, giảm nguy cơ động thai. Tục đoạn được sử dụng trong các bài thuốc phòng ngừa sẩy thai trong trường hợp hay đẻ non; chữa động thai, dọa sẩy thai khi thai được 2-3 tháng; Chữa kinh nguyệt quá nhiều, kinh màu nhạt; Chữa sữa không thông, ít sữa sau sinh. Thuốc có vị đắng, cay, mùi thơm, tính ấm, không độc.

5. Trần bì
Trần bì chính là vỏ quýt chín phơi khô. Theo Đông y, trần bì vị đắng, cay, tính ấm, vào hai kinh tỳ, phế, có tác dụng điều hoà khí, tiêu đờm, ráo thấp, tiêu chất bị ứ đọng, làm mạnh tỳ, được dùng chữa các chứng tức ngực, đầy bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, ho có nhiều đờm. Đối với phụ nữ mang thai, trần bì có hai công dụng hữu hiệu là kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, và giúp giảm cảm giác buồn nôn do triệu chứng ốm nghén gây ra.

6. Sa nhân
Sa nhân là quả gần chín hoặc sấy khô của cây sa nhân, thuộc họ gừng. Đây là một loại thuốc giúp kích thích hệ tiêu hóa, thường được làm gia vị hoặc tạo mùi cho rượu. Sa nhân còn có tác dụng tốt đối với việc ngừng tiêu chảy – một triệu chứng thường gặp ở các bà bầu.

Đặc biệt, sa nhân có công năng hoạt khí, trừ thấp và an thai. Sa nhân được dùng phối hợp với bạch truật và tô cánh để chữa ốm nghén hoặc động thai. Mỗi ngày nên dùng 2-6 gram dạng thuốc sắc hoặc theo chỉ định của thầy thuốc.

7. Tía tô
Tía tô là loại rau gia vị phổ biến, quen thuộc, đồng thời cũng là một vị thuốc Đông y hữu hiệu. Nhiều người mới chỉ biết đến tác dụng giải cảm của tía tô, tuy nhiên đây cũng là một vị thuốc an thai, dưỡng thai hiệu quả. Tía tô sắc kết hợp với một số loại dược liệu khác có thể dùng để chữa chứng ốm nghén, buồn nôn; điều trị khi thai phụ bị đau bụng, đau lưng, ra huyết; khi chị em bị nóng trong bụng, cồn cào, nước tiểu đỏ lượng ít, ăn uống kém, sưng đau lợi răng, táo bón, tiêu hóa không thông lợi (nhiệt thai); khi bị phù nề, tiểu ít, tê bì hai chi dưới; hoặc khi bị ho hen, nhiều đờm, khó thở. Tuy nhiên các bà bầu và gia đình cần chú ý tuyệt đối không sắc nước lá tía tô uống thường xuyên vì có thể làm tăng huyết áp. Vì vậy, mọi thang thuốc cần phải được sắc và uống theo chỉ định của thầy thuốc.

8. Gai vị
Gai (rễ) vị chính là củ gai, là phần rễ được phơi hoặc sấy khô của cây gai – loại cây có lá được sử dụng để làm món bánh gai nổi tiếng. Gai vị là một vị thuốc an thai phổ biến. Đối với trường hợp bị dọa sẩy thai, dùng 30gam rễ cây gai mới hái hoặc phơi khô sắc với 600ml nước, cô làm 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày. Chỉ 1-2 ngày là có kết quả, không nên kéo dài. Gai vị còn là vị thuốc lợi tiểu, trị chứng tiểu tiện, đại tiện ra máu, viêm tử cung, sa tử cung. Củ gai tươi cũng có tác dụng rất tốt cho người mẹ mang thai, có thể dùng cho người mang thai như một loại thực phẩm bổ dưỡng an thai bằng cách nấu với gà ác, móng giò, bồ câu... thành các món ăn bổ dưỡng hoặc luộc ăn, đun sắc nước để uống thay nước uống hàng ngày...

9. Ngải cứu
Ngải cứu cũng là một loại rau gia vị phổ biến có tác dụng tốt với phụ nữ mang thai. Từ xa xưa, ngải cứu được xem như là một vị thuốc quí, có tác dụng xoa dịu những cơn đau cơ, giúp tuần hoàn máu, giảm cơn đau vùng bụng và được sử dụng trong một số bài thuốc dành cho người bị động thai hay sảy thai liên tiếp. Ngải cứu có thể được ăn kèm với trứng hoặc sắc lấy nước uống. Ngoài tác dụng an thai, vị thuốc còn giúp tuần hoàn máu, giảm cơn đau vùng bụng, làm thuốc điều kinh hoặc hồi phục sức khỏe cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.

Ngoài ra, ngải cứu còn có tác dụng dùng để chữa đau lưng, đau khớp háng, đau hông cho phụ nữ mang thai bằng cách chườm lá ngải cứu. Lấy lá ngải cứu rửa sạch trộn lẫn muối hạt to rồi nướng nóng hoặc rang lên, sau đó bọc qua một lớp khăn mỏng chườm vào phần bị đau nhiều lần vào buổi tối trước khi đi ngủ. Làm theo cách này 3-5 ngày liên tục, triệu chứng sẽ thuyên giảm.

ĐAN SÂM-VỊ THUỐC QUÝ CHO BỆNH NHÂN SUY THẬN

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như y học cổ truyền đã chứng minh đan sâm có tác dụng rất tốt trong việc điều trị các bệnh về thận. Đan sâm (Salvia miltiorrhiza) là loại cây thảo sống lâu năm, cao từ 30-80 cm, thân hình trụ có 4 cạnh và lông mềm, lá mọc đối, cuống lá dài.

Đan sâm
Đan sâm là một vị thuốc quý trong y học cổ truyền, đặc biệt nó được nghiên cứu và ứng dụng trong điều trị suy thận. Năm 1993, các nhà nghiên cứu tại Hàng Châu (Trung Quốc) đã báo cáo tác dụng của đan sâm trên bệnh nhân suy thận đang được thẩm phân phúc mạc. Kết quả cho thấy, đan sâm có thể giúp làm tăng đáng kể mức thanh thải và siêu lọc creatinine, urê, axit uric. Cơ thể tăng cường đào thải các chất cặn bã có vai trò rất quan trọng vì khi bị suy thận, khả năng loại bỏ các chất này bị suy giảm.

Đặc biệt, đan sâm đã được sử dụng rộng rãi tại Trung Quốc hơn 30 năm qua để hỗ trợ điều trị suy thận mạn. Thành phần Lithospermate B trong đan sâm có tác dụng giúp tăng cường chức năng thận, hỗ trợ thận đào thải các chất độc ứ đọng trong cơ thể như: urê, creatinin, axit uric. Các tác dụng này càng tăng cường khi đan sâm được phối hợp với thành phần chính là cây dành dành chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao, kết hợp với những dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, mã đề, linh chi đỏ… và bào chế dưới dạng viên nén mang tên thực phẩm chức năng Ích Thận Vương. Sản phẩm giúp giảm triệu chứng của suy thận như phù, thiếu máu, đi tiểu nhiều…; giúp bảo vệ thận, tăng cường chức năng thận, hỗ trợ điều trị suy thận và không gây tác dụng phụ.

Để phòng ngừa, hỗ trợ điều trị suy thận mạn, bên cạnh việc hàng ngày uống Ích Thận Vương – một sản phẩm tiêu biểu có chứa đan sâm, người bệnh cần thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý và khám sức khỏe định kỳ.

NHỘNG TẰM-VỊ THUỐC TỐT CHO TRẺ NHỎ

Nhộng tằm còn gọi là tàm dũng, vị ngọt cay, tính bình, có công dụng hòa tỳ vị, trừ phong thấp, trường dương khí, dùng để chữa trẻ em cam nhiệt, gầy yếu, tiêu khát... Một số vận dụng cụ thể như sau:


Nhộng tằm
Trẻ em chậm phát dục: nhộng tằm 250 con luộc chín, sấy khô, sau đó đem rang vàng với dầu vừng, nêm đủ mắm muối, mỗi ngày ăn 10 con.

Trẻ em cam tích: nhộng tằm rang chín, mỗi ngày ăn 10 con chiêu với mật ong.

Trị giun: nhộng rang chín mỗi ngày ăn 20 con.

Động kinh, co giật: nhộng 5 con, cương tàm 10 con, bán hạ chế 15g, ngô công 1 con, toàn yết 0,3g, sắc uống.

Quai bị: nhộng 10 con, bản lam căn 30g, bồ công anh 30g, sắc uống.

Trĩ xuất huyết, xích lỵ: nhộng 1g, hoa hòe 30g, chỉ xác 10g, trắc bá diệp 15g, sắc uống.

Đau răng, cam răng: nhộng 3g đốt tồn tính, tán bột, trộn dầu vừng bôi vào tổn thương.

Sởi: nhộng 15g, sà sàng tử 10g, tạo giác thích 10g, bạch tiên bì 10g, khổ sâm 10g, sắc uống.

Chảy nước mắt nhiều khi ra gió: nhộng 30g, ba kích 10g, cốc tinh thảo 10g, mật mông hoa 10g, mộc tặc 10g, sắc uống.

Ngoài ra, tằm vôi (bạch cương tàm) là vị thuốc trị còi xương, sốt cao ở trẻ.

Trẻ em còi xương: bạch cương tàm sao qua tán nhỏ, uống mỗi lần 0,5 đồng cân với nước sắc lá bạc hà.

Trẻ em sốt cao co giật: bạch cương tàm, cúc hoa, tang diệp mỗi thứ 4,5g, câu đằng 6g, hoàng cầm 3g, chu sa 0,9g (tán bột uống), sắc uống.

ĐẬU BẮP TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Gần đây, trên các trang web có nhiều bài “ca tụng” đậu bắp như một “khắc tinh” của bệnh đái tháo đường. Có thật như vậy không?

Đậu bắp
Đậu bắp còn có tên là Mướp tây, bắp chà.

Tên khoa học là Hibiscus esculentus, họ Bông.

Quả đậu bắp có hình dạng tương tự như quả mướp nên gọi là mướp tây. Hạt trắng như hạt bắp (ngô) nên gọi là bắp chà. Cây giống đậu nhưng hạt giống bắp nên gọi là đậu bắp.

100g quả đậu bắp có 660 UI vitamin A (13% nhu cầu hàng ngày), 0,2mg vitamin B1 (10%), vitamin C 21mg (35%), canxi 81mg(l0%), folacin 88mcg (44%), magiê 57mg (16%), thiamin 0,2mg (13%), ngoài ra còn có kali và mangan.

Khi đun nóng lâu, chất nhầy làm cho nước canh đặc hơn. Nếu không thích nhầy thì chỉ đun nóng trong chốc lát.

Thanh nhiệt giải khát: lao động dưới trời nắng gắt, mồ hôi ra nhiều nên khát nước và dễ bị cảm nắng. Đậu bắp thanh nhiệt và sinh tân dịch, vì vậy, dùng đậu bắp nấu vừa ăn vừa uống nước nấu đó rất thích hợp.

Táo bón: đậu bắp rất dồi dào chất xơ, cả chất xơ hòa tan và chất xơ không hòa tan. 1/2 chén đậu bắp nấu chín có thể cung cấp khoảng 2g chất xơ, đậu bắp còn tươi nguyên cung cấp nhiều hơn, 1 chén khoảng 3,2g, và chất nhầy. Chất nhầy rất tốt đối với việc làm mềm phân, chất xơ kích thích nhu động ruột... cho nên nhuận tràng. Do chứa hàm lượng nước cao, đậu bắp còn giúp cơ thể tránh khỏi tình trạng táo bón, đầy hơi.

 Ngoài ra, đậu bắp giúp đi cầu tự nhiên, không gây đau bụng như các thuốc trị táo bón khác, vì vậy, những người thường bị táo bón, nên dùng đậu bắp nấu lấy nước uống và ăn cả quả đậu bắp luộc.

Hỗ trợ tiêu hóa: khi vào hệ tiêu hóa đậu bắp sẽ chất nhầy và chất xơ của đậu bắp trở thành môi trường tốt cho những vi khuẩn có lợi, có thể sánh với sữa chua (yaourt), giúp tổng hợp các vitamin nhóm B.

Đậu bắp có tính nhuận trường, dùng trị hội chứng kích ứng ruột, làm lành các vết loét trong đường tiêu hóa, đồng thời làm dịu những cơn đau thắt trong ruột.

Hỗ trợ giảm thân trọng: đậu bắp sinh ít nhiệt lượng - calori (khoảng 25 calo với 1/2 chén đậu bắp nấu chín), vì vậy đậu bắp là thức ăn lý tưởng cho những người đang muốn giảm cân. Chất béo phải nhờ cholesterol nhũ hóa mới vào máu, chất nhầy của đậu bắp khóa hoạt tính của cholesterol nên chất béo không vào máu; cơ thể không được tiếp tế nên sử dụng mỡ tồn đọng và tiêu mỡ khiến cho thân trọng giảm. Đa số người mập phì bị táo bón, vì vậy ăn đậu bắp vừa giảm cholesterol vừa chống táo bón, đúng là món ăn - vị thuốc.

Bệnh tim mạch: chất nhầy của đậu bắp ngoại hấp cholesterol của thực phẩm và của muối mật. Nó giữ cholesterol lại trong ruột, giúp cơ thể tái hấp thu nước, hấp thu những phân tử cholesterol vượt chỉ tiêu rồi bài thải theo phân ra ngoài, do đó giảm được cholesterol huyết. Những người cholesterol huyết cao, cao huyết áp, đau thắt ngực và các bệnh tim mạch khác nên ăn đậu bắp, vừa giảm cholesterol lại thông tiểu, rất thuận lợi cho bệnh cao huyết áp.

NƯỚC ÉP DƯA CHUỘT:ĐẸP DA,CHỮA NHIỀU BỆNH

Dưa chuột là một trong những loại quả được dùng phổ biến ở nước ta để làm thức ăn và làm thuốc. Trong dân gian cũng lưu truyền khá nhiều các bài thuốc sử dụng dưa chuột để chữa bệnh và giải khát.

Nước ép dưa chuột
Vào những ngày hè nóng nực, việc lựa chọn và chế biến nước giải khát từ dưa chuột là hết sức hữu ích. Bài viết này xin được giới thiệu một số công thức điển hình để độc giả tham khảo.

Dưa chuột 500g rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa với 20ml mật ong, uống trong ngày. Dùng đặc biệt tốt cho trẻ em bị mụn nhọt, rôm sẩy, mẩn ngứa, phát sốt trong mùa hè.

Dưa chuột 500g, bí đao 500g, hai thứ gọt bỏ vỏ và hạt, rửa sạch, thái miếng rồi ép lấy nước, pha thêm một chút muối, dùng làm nước giải khát trong ngày. Đồ uống này đặc biệt tốt với những người thừa cân và béo phì.Dưa chuột 500g, dưa hấu 500g, hai thứ gọt bỏ vỏ và hạt, ép lấy nước, hòa với 20ml mật ong, chia uống vài lần trong ngày. Dùng làm nước giải khát, chữa phù thũng và làm đẹp da.

Vỏ dưa chuột 100g, vỏ bí đao 100g, hai thứ rửa sạch, sắc với 500ml nước trong 30 phút rồi bỏ bã lấy nước, pha thêm một chút muối, uống trong ngày. Dùng đặc biệt tốt cho những người hay bị phù thũng.
Dưa chuột 300g, bình quả (loại táo to nhập khẩu từ nước ngoài) 200g, chanh 100g. Dưa chuột và táo gọt bỏ vỏ, chanh để nguyên vỏ, bỏ hạt, tất cả thái lát đem ép lấy nước, pha thêm một chút muối, uống trong ngày. Dùng để làm nước giải khát, đặc biệt với những người bị tăng huyết áp, mắc bệnh thận.

Dưa chuột, táo, cà rốt và bưởi múi mỗi thứ 500g, mật ong và nước đun sôi để nguội vừa đủ. Dưa chuột và táo gọt bỏ vỏ, cà rốt rửa sạch thái miếng, bưởi bỏ vỏ và hạt, tất cả đem ép lấy nước, cho thêm nước đun sôi để nguội và mật ong lượng vừa đủ, uống trong ngày. Đồ uống này rất giàu vitamin, vừa giải khát vừa làm đẹp da.

Dưa chuột và bưởi múi mỗi thứ 80g, cà chua 100g, nước cốt chanh 20ml. Dưa chuột và bưởi bỏ vỏ và hạt, cà chua thái miếng, tất cả đem ép lấy nước, hòa với nước cốt chanh, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, làm đẹp da và đen râu tóc.

Dưa chuột 300g, củ cải 100g, mật ong 15ml. Dưa chuột và củ cải rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa thêm mật ong, uống trong ngày. Có công dụng giải khát, đặc biệt tốt với những người bị viêm đường tiết niệu, sỏi thận, sỏi niệu quản và sỏi bàng quang.

Dưa chuột 250g, nho tươi 200g, chuối tiêu 150g, nước cốt chanh tươi 15ml. Dưa chuột rửa sạch thái miếng, nho rửa sạch, chuối tiêu bỏ vỏ thái miếng, tất cả đem ép lấy nước, uống trong ngày. Dùng làm nước giải khát, đặc biệt tốt với những người bị bệnh thận, thiếu máu, mệt mỏi, chán ăn.

Nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong 100g dưa chuột tươi có chứa 96g nước; 0,6g protein; 0,1g mỡ; 22g đường; 12mg Ca; 0,3mg Fe; 15mg Mg; 24mg P; 45 đơn vị quốc tế vitamin A; 0,03mg vitamin B1; 0,02mg vitamin B2; 0,3mg niacin, 12mg vitamin C. Vì dưa chuột tính lạnh nên những người tỳ vị hư hàn, hay bị rối loạn tiêu hóa, đi lỏng không nên dùng.